Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 50/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Trong ngày 29/11/2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 299/2019/TLST-HNGĐ ngày 02/8/2019 về việc:“Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15/11/2019 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1984;

Nơi ĐKNKTT: Tổ 5, khu Tân Lập 1, phường Cẩm Th, thành phố P, tỉnh Quảng Ninh;

Nghề nghiệp: Nhân viên - Công ty nhôm đúc Quốc Duyệt, có mặt.

-Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1992;

Nơi ĐKNKTT: Tổ 5, khu Tân Lập 1, phường Cẩm Th, thành phố P, tỉnh Quảng Ninh;

Chỗ ở: Khu vực 6, phường Thuận A, thị xã Long M, tỉnh Hậu Gi;

Nghề nghiệp: Nội trợ, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 24/7/2019, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Nguyễn Anh T trình bày: Tôi và chị Nguyễn Thị Thanh H xây dựng gia đình với nhau từ năm 2010, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Mỹ, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ngày 22/3/2010 trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu nhau 06 tháng. Sau khi kết hôn, chúng tôi sống chung với bố mẹ tôi tại tổ 5, khu Tân Lập 1, phường Cẩm Th, thành phố P, tỉnh Quảng Ninh. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc bình thường cho đến đầu năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính cách không hợp nhau, lối sống cũng như quan điểm sống bất đồng, xung đột, vợ chồng thường xuyên cãi cọ, chửi bới xúc phạm nhau. Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng kéo dài không khắc phục được, cuối năm 2012 chị H đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở tỉnh Hậu Giang sinh sống, làm ăn cho đến nay. Từ khi vợ chồng sống ly thân, mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả, tôi xét thấy mâu thuẫn của tôi và chị H đã trầm trọng, không thể khắc phục, hàn gắn được nữa. Tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị H để ổn định cuộc sống. Tôi và chị H có một con chung là Nguyễn Sơn Tùng, sinh ngày 30/8/2010. Từ khi sống ly thân, con chung ở với chị H nhưng chị H lại đi làm ăn ở xa, để con ở nhà cho bố mẹ đẻ chăm sóc, nuôi dưỡng. Tôi vẫn thường xuyên chu cấp, liên lạc, nói chuyện với con và trong thời gian Tòa án giải quyết yêu cầu xin ly hôn của tôi đối với chị H, gia đình chị H đã đồng ý cho tôi đón con về nuôi dưỡng. Tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tôi không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng cho con. Tôi hiện nay làm nhân viên tại Công ty nhôm đúc Quốc Duyệt, thu nhập bình quân là 15.000.000 đồng/tháng cùng với sự giúp đỡ của bố mẹ đẻ tôi, tôi sẽ đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh H: Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Quảng Ninh đã ủy thác cho Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết các yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Anh T đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh H và giao giấy triệu tâp hợp lệ nhiều lần để chị Nguyễn Thị Thanh H đến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Quảng Ninh để giải quyết các yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Anh T đối với chị Nguyễn Thị Thanh H nhưng đều vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Anh T. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P nhận thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Anh T. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]Cuộc hôn nhân giữa anh Nguyễn Anh T và chị Nguyễn Thị Thanh H là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Mỹ, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ngày 22/3/2010. Cuộc sống chung của anh T và chị H hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân như anh T trình bày nêu trên, anh T và chị H đã sống ly thân từ cuối năm 2012 đến nay. Anh T xét thấy không còn tình cảm với chị H, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị H để ổn định cuộc sống; chị Nguyễn Thị Thanh H, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không rõ quan điểm của chị H về tình trạng hôn nhân của vợ chồng, chị H có còn tình cảm với anh T hay không. Anh T và chị H có một con chung là Nguyễn Sơn Tùng, sinh ngày 30/8/2010, hiện nay đã do anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T có quan điểm xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng cho con. Về điều kiện nuôi dưỡng con chung, anh T xác định sẽ đảm bảo. Chị H không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không rõ quan điểm của chị H về phần con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T xác định là không có; chị H không có mặt nên không rõ quan điểm của chị H về phần tài sản chung, nợ chung.

[2]Tòa án nhân dân thành phố P đã tiến hành thu thập chứng cứ tại nơi anh Nguyễn Anh T và chị Nguyễn Thị Thanh H cư trú trước khi hai người sống ly thân, được đại diện khu phố cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân của anh T và chị H đúng như anh T đã trình bày nêu trên. Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang đối với bà Tô Thị Nhung (bà Nhung là mẹ đẻ chị H): Ngoài việc xác định tình trạng hôn nhân của anh T và chị H mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2012 đúng như anh T trình bày thì bà Nhung cũng xác định con chung của anh T và chị H đang sống chung cùng bà, còn chị H đi làm xa nhà và có gửi tiền về cho bà nuôi con hộ. Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/9/2019, cháu Nguyễn Sơn Tùng, sinh ngày 30/8/2010 là con chung của anh T và chị H trình bày hiện cháu hiện đang sống chung cùng ông bà ngoại. Cháu có nguyện vọng được ở với bà ngoại nếu bố mẹ ly hôn.

[3]Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như nêu trên, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ quy định tại các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Nguyễn Anh T và chị Nguyễn Thị Thanh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị H; đối với yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh T, do chị H không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án, bản thân chị H không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Nguyễn Sơn Tùng mà để cho con chung cho bố mẹ đẻ của chị H nuôi dưỡng (hiện bố mẹ chị H đã giao lại cháu Nguyễn Sơn Tùng cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng); anh T xác định sẽ đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung nên chấp nhận yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh T; anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng cho con nên không đề cập. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T xác định là không có, chị H không có mặt nên không rõ quan điểm của chị H về phần tài sản chung, nợ chung nên không đề cập.

[4] Về án phí: Anh Nguyễn Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của anh Nguyễn Anh T đối với chị Nguyễn Thị Thanh H. Anh Nguyễn Anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh H.

Giao cho anh Nguyễn Anh T có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Sơn Tùng, sinh ngày 30/8/2010 cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Thanh H không phải cấp dưỡng cho con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Anh T xác định là không có.

Về án phí: Anh Nguyễn Anh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004695 ngày 02/8/2019 của Chi cục Thi thành án dân sự thành phố P. Anh T đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt bị đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


55
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:50/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cẩm Phả - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về