Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 18/07/2019 về ly hôn  

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T

 BẢN ÁN 50/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/07/2019 VỀ LY HÔN

Hôm nay, ngày 18 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 42/2019/TLST-HNGĐ ngày 18/01/2019 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2019, quyết định hoãn phiên tòa số 24/2019/QĐST- HNGĐ ngày 28/6/2019 giữa các đương sự sau:

1. Nguyên đơn: Ngô Thị Mỹ V - Sinh năm 1973 Địa chỉ: 266/17 hẻm T, phường S, thành phố T. (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn C - Sinh năm 1972 Địa chỉ: 7A đường Q, phường H, thành phố T. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Nguyên đơn bà Ngô Thị Mỹ V trình bày: Tôi và anh Nguyễn C kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống, tôi và anh C có nhiều mâu thuẫn. Anh C thường xuyên uống rượu, đánh đập và đuổi tôi ra khỏi nhà. Trong thời gian 5 năm sống cùng anh C, tuy ở chung 1 nhà nhưng chúng tôi đã ly thân mạnh ai nấy sống. Tháng 12/2018 tôi đã dọn ra ngoài ở riêng. Nay tôi xin ly hôn với anh C.

Tôi và anh C có 01 con chung là Nguyễn Kim N sinh ngày 12/11/2013. Tôi xin nuôi và không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

Tài sản chung và nợ chung chúng tôi tự giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn C: Đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng ông Chiến cố tình tránh né, không đến Toà án để giải quyết việc ly hôn nên Toà án không thể tiến hành lấy lời khai và hoà giải được hai bên.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phát biểu quan điểm: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Về con chung, giao con chung là Nguyễn Kim N sinh ngày 12/11/2013 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, không xem xét do đương sự không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

- Việc bà Ngô Thị Mỹ V khởi kiện yêu cầu được giải quyết ly hôn với ông Nguyễn C, xét yêu cầu khởi kiện của bà Vân là hoàn toàn đúng pháp luật nên chấp nhận và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T.

- Ông Nguyễn C đã được Tòa án thông báo việc thụ lý vụ án và triệu tập đến Toà án giải quyết việc ly hôn nhưng ông C cố tình không đến, tuy nhiên Toà án đã tiến hành các thủ tục niêm yết công khai theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên toà hôm nay ông Chiến lại vắng mặt, đây là lần thứ hai nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Nguyễn C.

* Về nội dung vụ án: Bà Ngô Thị Mỹ V và ông Nguyễn C tự nguyện kết hôn được Ủy ban nhân dân phường H – thành phố T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 93/2013, quyển số 01/2013. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống, cuộc sống hôn nhân của bà V và ông C không hạnh phúc, bà V và ông C đã ly thân mạnh ai nấy sống không quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vân.

- Về con chung: Bà Ngô Thị Mỹ V và ông Nguyễn C có 01 con chung là Nguyễn Kim N sinh ngày 12/11/2013. Xét yêu cầu của bà V là xin nuôi con và không yêu cầu ông C cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy bà V có việc làm ổn định, có thu nhập đủ điều kiện để nuôi con chung nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Vân, giao con chung Nguyễn Kim N sinh ngày 12/11/2013 cho bà V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu do đó Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

- Về án phí: Bà Ngô Thị Mỹ V phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 264, Điều 267 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, Bà Ngô Thị Mỹ V được ly hôn ông Nguyễn C.

2/ Về con chung: giao con chung Nguyễn Kim N sinh ngày 12/11/2013 cho bà Ngô Thị Mỹ V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Nguyễn C.

Ông Nguyễn C được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét, nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

4/ Về án phí: Bà Ngô Thị Mỹ V phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng bà V đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2016/0010612 ngày 18/01/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố T, bà Ngô Thị Mỹ V đã nộp đủ án phí HNGĐ-ST.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


66
  • Tên bản án:
    Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 18/07/2019 về ly hôn  
  • Cơ quan ban hành:
  • Số hiệu:
    50/2019/HNGĐ-ST
  • Cấp xét xử:
    Sơ thẩm
  • Lĩnh vực:
    Hôn Nhân Gia Đình
  • Ngày ban hành:
    18/07/2019
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 18/07/2019 về ly hôn  

Số hiệu:50/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 18/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về