Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 12/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 50/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 12 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2019/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXX-ST ngày 23 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32 ngày 06 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Thôn 9, xã K1, huyện K, thành phố Hải Phòng: Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Đào Xuân T1, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: Thôn 9, xã K1, huyện K, thành phố Hải Phòng: Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 29/5/2019 và bản tự khai ngày 23/7/2019 chị Thương trình bày: Chị tự nguyện kết hôn với anh Đào Xuân T1 thời gian năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K1, huyện K. Nói chung vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 16 năm. Tuy nhiên trong quá trình sống chung mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2017 do phong cách sống không còn phù hợp, nghi ngờ nhau sống không chung thủy, không thống nhất trong làm ăn kinh tế. Anh T1 chơi bời cờ bạc, không có trách nhiệm đến vợ con. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Mặc dù chị và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo để vợ chồng trở lại sống đoàn tụ nhưng không thành. Chị bỏ về mẹ đẻ ở từ tháng 01 năm 2019 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài; Chị xin ly hôn anh T1.

Về con chung: Có 02 con là Đào Duy K, sinh ngày 29/5/2002 và Đào Văn V, sinh ngày 03/5/2015. Hiện cháu K đang do anh T1 nuôi dưỡng, cháu V đang do chị nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị xin tiếp tục nuôi dưỡng cháu V, nhất trí để anh T1 tiếp tục nuôi dưỡng cháu K đến khi cả 02 con đủ 18 tuổi; trên cơ sở nguyện vọng của cháu K, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con, vì hiện nay chị làm nghề buôn bán hải sản, anh T1 làm nghề thợ xây, cả hai vợ chồng đều có thu nhập kinh tế và có nơi ăn ở ổn định, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Đào Xuân T1 trình bày tại bản tự khai ngày 09/8/2019: Thống nhất với chị T về thời gian kết hôn. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ giữa năm 2018 do phong cách sống không phù hợp, vợ chồng nghi ngờ nhau sống không chung thủy, không thống nhất trong làm ăn kinh tế nên thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Mặc dù anh và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo để vợ chồng trở lại sống đoàn tụ nhưng không thành. Chị T bỏ về mẹ đẻ ở từ tháng 01 năm 2019 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay anh thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn rất trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại. Nhưng anh xin đoàn tụ với chị T để nuôi dạy con chung.

Về con chung: Có 02 con là Đào Duy K, sinh ngày 29/5/2002 và Đào Văn V, sinh ngày 03/5/2015. Hiện cháu K đang do anh nuôi dưỡng, cháu V đang do chị T nuôi dưỡng. Nếu ly hôn anh xin tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con đến khi đủ 18 tuổi; trên cơ sở nguyện vọng của cháu K, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con, vì hiện nay anh làm nghề thợ xây, có thu nhập kinh tế và có nơi ăn ở ổn định, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ quy định tại khoản 15 Điều 70, khoản 1 Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 tự nguyện kết hôn năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K1, huyện K. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn do phong cách sống không còn phù hợp, vợ chồng nghi ngờ nhau sống không chung thủy, không thống nhất trong làm ăn kinh tế, nên thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Mặc dù gia đình, thôn xóm đã nhiều lần khuyên giải để vợ chồng sống đoàn tụ nhưng không thành. Chị T bỏ về mẹ đẻ ở từ tháng 01 năm 2019 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay tại phiên tòa cả hai anh chị đều xin ly hôn, được chấp nhận.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đào Xuân T1.

2. Về con chung: Anh chị có 02 con là Đào Duy K, sinh ngày 29/5/2002 và Đào Văn V, sinh ngày 03/5/2015. Hiện cháu K đang do anh T1 nuôi dưỡng, cháu V đang do chị T nuôi dưỡng. Nay tại phiên tòa cả hai anh chị đều thống nhất giao cháu K và cháu V cho chị T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi cần chấp nhận;

Căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử: Giao cháu Đào Duy K, sinh ngày 29/5/2002 và cháu Đào Văn V, sinh ngày 03/5/2015 cho chị T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị T và anh T1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản, công nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T tự nguyện kết hôn với anh Trung năm 2001 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K1, huyện K. Đánh giá chung vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 16 năm. Song trong thời gian sống chung mâu thuẫn phát sinh từ đầu năm 2017 do phong cách sống không còn phù hợp, vợ chồng nghi ngờ nhau sống không chung thủy, không thống nhất trong làm ăn kinh tế, anh T1 chơi bời cờ bạc, không có trách nhiệm đến vợ con; vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Mặc dù gia đình, thôn xóm đã nhiều lần khuyên giải để vợ chồng sống đoàn tụ nhưng không thành. Chị T bỏ về mẹ đẻ ở từ tháng 01 năm 2019 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay tại phiên tòa cả hai anh chị đều xin ly hôn, được chấp nhận; nên xử cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp.

[2] Về con chung: Anh chị có 02 con là Đào Duy K, sinh ngày 29/5/2002 và Đào Văn V, sinh ngày 03/5/2015. Hiện cháu K đang do anh T1 nuôi dưỡng, cháu V đang do chị T nuôi dưỡng. Nay tại phiên tòa cả hai anh chị thỏa thuận thống nhất giao cháu K và cháu V cho chị T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi được chấp nhận, cần giao cháu K và cháu V cho chị T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị T và anh T1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản, công nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đào Xuân T1.

2. Về con chung: Giao cháu Đào Duy K, sinh ngày 29/5/2002 và cháu Đào Văn V, sinh ngày 03/5/2015 cho chị T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA.0012300 ngày 18 tháng 7 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chị T đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


84
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 12/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:50/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Thuỵ - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về