Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 05/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 50/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 05 tháng 9 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2019, về : “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2019/QĐST- HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hồng N, sinh năm 1990. Địa chỉ: 04 đường L, tổ 1, phường Y thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1989. Địa chỉ: 06 đường L, tổ 1, phường Y thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 29/3/2019, bản khai va tại phiên tòa N đơn là chị Phan Thị Hồng N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng N và anh Nguyễn Đức T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường Yên Thế, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 160, ngày 11/10/2014. Thời gian đầu chung sống với nhau hòa hợp không mâu thuẫn gì nhưng đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2018 thì mâu thuẫn trầm trọng. N nhân của mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng thường xuyên cải vã mà không hòa giải được, dần dần tình cảm ngày càng xa cách, mâu thuẫn của vợ chồng cũng được hai bên gia đình khuyên giải nhưng vẫn không được. Anh T đi ra ngoài và có gây nợ nần chị N và gia đình hai bên phải trả nợ. Anh T bỏ đi từ tháng 3 năm 2019 đến nay. Nay chị N không còn tình cảm yêu thương anh T, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Đức T - Về con chung: Có 01 con tên Nguyễn Đức Lâm, sinh ngày 28/01/2016 . Hiện nay con chung đang được chị N nuôi dưỡng, chị N xin được nuôi con.

- Về cấp dưỡng: không yêu cầu.

- Về T sản chung, nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn là anh Nguyễn Đức T mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T vắng mặt nên không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của N đơn.

Ý kiến Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: chị N và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích cua hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N xử cho chị N ly hôn với anh T.

- Con chung: Giao con là cháu Nguyễn Đức Lâm cho chị N nuôi dưỡng là có căn cứ. Về cấp dưỡng: không yêu cầu và T sản chung, nợ chung không có.

- Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thành phố Pleiku nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phan Thị Hồng N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với anh Nguyễn Đức T, địa chỉ: 06 Lê Quang Định, tổ 1, phường Yên Thế, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Bị đơn là anh Nguyễn Đức T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng N và anh Nguyễn Đức T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường Yên Thế, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 160, ngày 11/10/2014. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là hôn nhân hợp pháp.

[3] Chị N cho rằng N nhân mâu thuẫn vợ chồng do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, từ đó anh T không quan tâm gì đến vợ con mà bỏ mặc và anh T đã bỏ nhà đi khoảng 01 năm nay mà chị N không biết đi đâu và làm gì. Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án anh T cũng không có ý kiến thể hiện mong muốn đoàn tụ vợ chồng, từ đó cho thấy anh T không có thiện chí để Tòa án hòa giải đoàn tụ mà để mặc. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T đã lâm vào tinh trang trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích cua hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N.

[4] Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức Lâm, sinh ngày 28/1/2016. Chị N có nguyện vọng được nuôi con, đối với anh T không có ý kiến gì thể hiện nguyện vọng muốn được nuôi con. Mặt khác, trong thời gian cháu Lâm sống chung với chị N, được chị N chăm sóc, nuôi dưỡng đảm bảo quyền lợi của con. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu của chị N xin được nuôi con chung là chấu Lâm là có cơ sở nên chấp nhận.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu. Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về T sản chung và nợ chung: Không có.

[7] Về án phí: Chị N là N đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 58, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Áp dụng: khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Xử: Chấp nhân yêu cầu khơi kiên cua chị Phan Thị Hồng N

- Về hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng N được ly hôn với anh Nguyễn Đức T.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Đức Lâm, sinh ngày 28/1/2016 cho chị Phan Thị Hồng N trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lâm đã thành niên và có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có T sản để tự nuôi mình.

- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự. Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Không bên nào được cản trở quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng

xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Về án phí: Chị Phan Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà chị Phan Thị Hồng N đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0001243 ngày 02/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Vậy chị Phan Thị Hồng N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

N đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Uỷ ban nhân dân nơi cư trú.


38
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 05/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:50/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku - Gia Lai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về