Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 50/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/08/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 02 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 725/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXX-ST ngày 08 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Minh D, sinh năm 1986; nơi thường trú: Thôn P, xã A, huyện C, tỉnh Gia Lai; nơi tạm trú: Nhà trọ T, số 66/2, khu phố B, phường K, thị xã M, tỉnh Bình Dương, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; nơi thường trú: Thôn P, xã A, huyện C, tỉnh Gia Lai; nơi tạm trú: Nhà trọ T, số 66/2, khu phố B, phường K, thị xã M, tỉnh Bình Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 5 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Minh Diễm trình bày:

Bà Trần Thị Minh D và ông Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, thị xã M, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 97/2015, quyển số 01/2015 ngày 30 tháng 7 năm 2015.

Sau khi kết hôn, bà D và ông T sống trọ tại khu phố B, phường K, thị xã M, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu bà D và ông T chung sống rất hạnh phúc cho đến năm 2016 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, ông T không quan tâm chăm sóc vợ con, thường nghe lời bạn bè và có lời nói xúc phạm bà D. Tháng 3 năm 2019, bà D đã từng nộp đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân thị xã Thuận An nhưng sau đó rút đơn khởi kiện vì muốn vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau chăm lo và nuôi dạy con chung nhưng cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông T vẫn không thay đổi. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà D khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà D và ông T có một con chung tên Nguyễn Trần Minh T1, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2015, bà D yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 28 tháng 6 năm 2019, ông T thống nhất về thời gian kết hôn, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Ông T cũng thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, ông T nói gì thì bà D cũng không nghe mà tự làm theo ý mình, ông T chỉ đồng ý ly hôn nếu bà D giao con cho ông nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa, bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T, về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, về con chung bà D yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: bà D được ly hôn với ông T; về con chung: giao con chung tên Nguyễn Trần Minh T1, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2015 cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương nhận định:

[2] Về tố tụng:

Bà Diễm khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Tâm; ông Tâm có nơi tạm trú tại khu phố B, phường K, thị xã M, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông T kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn ngày 30 tháng 7 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phường K, thị xã M,, tỉnh Bình Dương nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông T.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù qua xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông T chính quyền địa phương không nhận thấy mâu thuẫn gì, tuy nhiên trước đây bà D đã nộp đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân thị xã Thuận An tuy nhiên muốn cho ông T cơ hội và vợ chồng đoàn tụ nên bà D đã rút yêu cầu khởi kiện nhưng trong thời gian này cuộc sống hôn nhân giữa bà D và ông T vẫn không thay đổi mà ngày càng trầm trọng hơn, bà D và ông T không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm lẫn nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc nhau.

Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa bà D và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà D yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Bà D và ông T có một con chung tên Nguyễn Trần Minh T1, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2015. Tại phiên toà bà D vẫn giữ yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu T1 còn nhỏ và hiện đang sống chung với bà D. Ngoài ra, bà D có công việc và thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo và công dân có ích cho xã hội nên giao cháu T1 cho bà D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.

[7] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Minh D đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Minh D được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trần Minh T1, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2015 cho bà Trần Thị Minh D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Minh D về việc không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm:

Bà Trần Thị Minh D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0035367 ngày 31 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

3. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


53
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:50/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thuận An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:02/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về