Bản án 50/2018/HNGĐ-ST ngày 27/09/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN H, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 50/2018/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 27 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2018/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2018/ QĐXXST-HNGĐ ngày 07/9/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2018/QĐST- HNGĐ ngày 17/9/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Kim P – sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 04, ấp Tân Phát A, xã Tân Hiệp B, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn: Anh Phạm Cao H – sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà 105, Tổ 04, ấp Tân P, xã Tân Hiệp B, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị Đỗ Thị Kim P trình bày:

Chị và anh Phạm Cao H chung sống với nhau vào ngày 18 tháng 9 năm 2004, cóđăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Hiệp B, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 07/09/2004, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương, trước khi cưới vợ chồng có tìm hiểu nhau trước 02 năm mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.

Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H thường xuyên đi nhậu về đến nhà đòi chia tài sản, đánh đập chị P nhiều lần. Gia đình và địa phương đã hòa giải nhưng anh H vẫn không thay đổi, từ đó vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, vợ chồng không sống với nhau từ tháng 02 năm 2017 cho đến nay. Trước đây anh H cùng đăng ký hộ khẩu thường trú với chị P tại ấp Tân Phát A, xã Tân Hiệp B, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang nhưng hiện nay anh H đã chuyển khẩu về số nhà 105, Tổ 04, ấp Tân P, xã Tân Hiệp B, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Phạm Quốc H, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2005, cháu đã có giấy khai sinh và hiện nay cháu H đang sống với chị P.

- Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Không có.

Tại phiên tòa chị P yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị P yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Cao H.

- Về con chung: Chị P yêu cầu được nuôi cháu Quốc H, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.

 NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: anh Phạm Cao H với tư cách là bị đơn, tại phiên tòa anh H vắng mặt. Xét thấy anh H đã được Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh H vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt đối với anh H là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh H là hôn nhân hợp pháp, vì anh chị chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Hiệp B, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang, giấy chứng nhận kết hôn số 87 quyển số 01 ngày 07/9/2004 theo đúng quy định của pháp luật. Phù hợp với Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010.

[3] Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị P cho thấy chị và anh H chung sống với nhau thời gian đầu hạnh phúc, đến sau này thì phát sinh mâu thuẫn, chị P cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H thường đi nhậu về đến nhà đánh đập chị P, chị P đã khuyên nhiều lần, gia đình và địa phương cũng đã hòa giải, nhưng anh H vẫn không thay đổi từ đó dẫn đến vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được.

Sau khi thụ lý vụ án, tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh H không có ý kiến gì và vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến của anh H. Tại phiên tòa chị P vẫn giữ nguyên quyết định xin được ly hôn. Xét thấy chị P và anh H không chung sống với nhau từ tháng 02 năm 2017 cho đến nay, trong thời gian anh chị sống ly thân thì không ai quan tâm đến ai, không ai có ý muốn hàn gắn cuộc sống vợ chồng, xét thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị P.

[4] Về con chung: chị P xác nhận quá trình chung sống chị và anh H có 01 người con chung là Phạm Quốc H, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2005. Tại phiên tòa chị P yêu cầu được nuôi cháu Quốc H, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “ vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”, theo nguyện vọng của cháu Quốc H là xin được sống với mẹ. Xét yêu cầu của chị P xin được nuôi cháu Quốc H là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với nguyện vọng của cháu Quốc H, bởi lẽ từ khi chị P và anh H sống ly thân đến nay thì cháu Quốc H sống với chị P sức khỏe và tâm sinh lý của cháu phát triển bình thường và để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý của cháu, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị P, giao cháu Quốc H cho chị P nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Khi cần thiết anh chị có quyền xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Không ai có quyền cản trở việc tới lui thăm nom con chung.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[6] Về án phí HNST: Buộc chị P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0005047 ngày 24/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ các Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

 Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Kim P. Cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị Kim P và anh Phạm Cao H.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu xin được nuôi con của chị Đỗ Thị Kim P. Tiếp tục giao cháu Phạm Quốc H, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2005 cho chị Đỗ Thị Kim P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Phạm Cao H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Khi cần thiết anh chị có quyền xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Không ai có quyền cản trở việc tới lui thăm nom con chung.

3. Về án phí HNST: Buộc chị Đỗ Thị Kim P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0005047 ngày 24/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Phạm Cao H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2018/HNGĐ-ST ngày 27/09/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:50/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Hiệp - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về