Bản án 495/2020/HNGĐ-ST ngày 31/12/2020 về ly hôn 

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 495/2020/HNGĐ-ST NGÀY 31/12/2020 VỀ LY HÔN 

Ngày 31 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 467/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2020 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 08/12/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/12/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Thạch Thị T, sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp QA, xã H L, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. (có đơn xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Trần Văn N, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp QA, xã H L, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt) 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 15/6/2020, trong quá trình tố tụng và tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 10/12/2020, nguyên đơn chị Thạch Thị T trình bày:

Chị T và anh Trần Văn Ncưới nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Lợi và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 17/6/2014, trong thời gian sống chung có 03 con chung tên Trần Thị Gia H, sinh ngày 09/10/2009 và Trần Thị Gia L, sinh ngày 23/8/2013 hiện nay đang sống chung với anh N; còn Trần Thị Gia T, sinh ngày 15/4/2016 hiện nay đang sống chung với Chị T. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã nên tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt và đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau.

Nay Chị T yêu cầu về hôn nhân được ly hôn với anh Trần Văn N. Về con chung:

Chị T đồng ý để anh N được trực tiếp nuôi dưỡng Trần Thị Gia H, sinh ngày 09/10/2009 và Trần Thị Gia L, sinh ngày 23/8/2013 (theo nguyện vọng của 02 con chung), Chị T không cấp dưỡng nuôi con. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Trần Thị Gia T, sinh ngày 15/4/2016 không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn anh Trần Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và cũng không có ý kiến gửi đến Tòa án nên không có ý kiến trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án cho rằng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng; Tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đầy đủ theo đúng thủ tục tố tụng; người tham gia tố tụng là nguyên đơn nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền của mình trong quá trình tố tụng nhưng đối với bị đơn chưa nghiêm túc thực hiện hiện đầy đủ quyền của mình, tại phiên tòa vắng mặt không lý do.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Chị Thạch Thị T yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn N, do bị đơn sinh sống tại huyện P nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P theo quy định các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Thạch Thị T có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Trần Văn N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

[3] Chị Thạch Thị T và anh Trần Văn N cưới nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Lợi vào năm 2014 là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hai bên không có thiện chí dung hòa khắc phục mâu thuẫn hiện nay đã ly thân, trong khoảng thời gian không sống chung hai bên không tạo điều kiện cho nhau để hàn gắn tình cảm, cũng như hai bên không có giải pháp nào giải quyết những mâu thuẫn để sum họp gia đình và từ khi ly thân hai bên có cuộc sống riêng tư, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Đồng thời quá trình giải quyết Tòa án thu thập chứng cứ bằng biện pháp xác minh tình trạng hôn nhân giữa Chị T và anh N thì được biết tình trạng hôn nhân hai bên đã xảy ra nhiều mâu thuẫn,bất đồng trong cuộc sống và sinh hoạt. Xác định Chị T và anh N đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của Chị T là có căn cứ tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, cho chị Thạch Thị T được ly hôn với anh Trần Văn Nhân. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

[4] Xét về con chung: Chị T đồng ý giao cho anh N được trực tiếp nuôi dưỡng Trần Thị Gia H, sinh ngày 09/10/2009; Trần Thị Gia L, sinh ngày 23/8/2013 và tại biên bản lấy ý kiến của 02 con chung thì cháu Gia H và Gia L có nguyện vọng sống chung với anh N nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Gia H và Gia L cho anh N được trực tiếp nuôi dưỡng, do anh N không có ý kiến về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Chị T không cấp dưỡng nuôi con.

Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Trần Thị Gia T, sinh ngày 15/4/2016, Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy hiện nay Chị T đang là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Gia Tiên, con chung có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Gia T cho Chị T được trực tiếp nuôi dưỡng và anh N không cấp dưỡng nuôi con do Chị T không có yêu cầu.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Chị T phải nộp án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, các Điều 147, 227, 228, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Toà án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị T. Cho chị Thạch Thị T được ly hôn với anh Trần Văn N. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

2. Về con chung: anh N được trực tiếp nuôi dưỡng Trần Thị Gia H, sinh ngày 09/10/2009; Trần Thị Gia L, sinh ngày 23/8/2013 (theo nguyện vọng của 02 con chung). Chị T được trực tiếp nuôi dưỡng Trần Thị Gia T, sinh ngày 15/4/2016. Chị T, anh N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.

Chị T, anh Ncó quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo qui định.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị T phải nộp 300.000đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.00 0đồng theo biên lai thu số: 0003277 ngày 30/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú. Như vậy án phí Chị T đã nộp xong.

Đương sự vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 495/2020/HNGĐ-ST ngày 31/12/2020 về ly hôn 

Số hiệu:495/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thạnh Phú - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/12/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về