Bản án 49/2020/HS-ST ngày 30/09/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 49/2020/HS-ST NGÀY 30/09/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2020/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2020/QĐST - HS ngày 15 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo: Họ và tên:Phạm Xuân T (tên gọi khác V), sinh năm 1991.

Nơi sinh: xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: thôn X, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính Nam; Con ông: Phạm Xuân H, sinh năm 1961; Con bà: Phạm Thị T, sinh năm 1967 (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn; Nhân thân: Tháng 9/2009 đến tháng 01/2011 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại đảo Thổ Chu, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Ngày 15/10/2012 cai nghiện bắt buộc, thời gian 12 tháng tại Trung tâm cai nghiện bắt buộc 05 - 06 tỉnh Thái Bình theo Quyết định số 1521/QĐ - UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ngày 14/7/2020 Công an huyện Kiến Xương đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản. Bản án số 91/2020/HSST ngày 04/8/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Quyết định thi hành án phạt tù số 116/2020/QĐ - CA của Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình ngày 07/9/2020, hiện đang chấp hành hành án.

Tin án: Bản án số 50/2016/HSST ngày 29/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù giam về tội Hủy hoại tài sản.

Tiền sự: Không Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (có mặt) * Bị hại:

- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966. (vắng mặt). Nơi cư trú: thôn P, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Chị Vũ Thị Anh, sinh năm 1984. (có mặt).

Nơi cư trú: thôn L, thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1961. (vắng mặt).

Nơi cư trú: số nhà 13, ngách 50, ngõ 115, đường L, tổ 05, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình - Bà Bùi Thị L, sinh năm 1951. (có mặt).

Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình - Chị Vũ Thị T, sinh năm 1973. (có mặt).

Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng17 giờ ngày 03/4/2020, với mục đích trộm cắp tài sản lấy tiền chi tiêu, T đi xe đạp đến chùa P thuộc thôn P, xã V, huyện Kiến Xương, dựng xe ở cổng phụ rồi đi bộ vào trong chùa. T đi đến phòng ngủ của bà Nguyễn Thị N trộm cắp 01 chiếc máy tính xách tay màu đen hiệu DELL5430. T mang máy tính ra ngoài để ở giỏ xe đạp rồi đi lên thành phố Thái Bình. T đến gần cầu Đen thuộc khu đô thị 379 thành phố Thái Bình gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 50 tuổi, T hỏi người này có mua máy tính không, người này đồng ý mua với giá 1.200.000 đồng. Số tiền này T đã chi tiêu cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐG ngày 25/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kiến Xương kết luận: tài sản định giá gồm: 01 chiếc máy vi tính xách tay màu đen, hiệu DELL E5430, tại thời điểm định giá ngày 03/4/2020 có giá trị 2.250.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 05/4/2020, Phạm Xuân T điều khiển xe đạp đi từ nhà đến chùa L thuộc thôn B, xã T, huyện Kiến Xương để trộm cắp tài sản. Khi đến chợ xã T (cạnh chùa L), T dựng xe đạp trong chợ rồi đi vào chùa. T đi vào dãy nhà ở gồm 3 phòng, thấy phòng trong cùng không khóa cửa, T vào phòng lấy trộm ở trên mặt bàn kê cạnh giường 01 chiếc điện thoại di động hiệu NOKIA C300 lắp thẻ sim số 0392.113.237, 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A7 lắp thẻ sim số 0971.388.266 và sim số 0919.589.502, 01 đồng hồ đeo tay hiệu RADO. T đi đến chiếc tủ nhựa, kéo ngăn tủ thứ hai lấy chiếc ví da màu nâu bên trong có số tiền 5.850.000 đồng và giấy tờ cá nhân đều của chị Vũ Thị A, sinh năm 1984, trú thôn B, xã T, huyện Kiến Xương. T đi ra ngoài, lấy tiền ở trong ví rồi vứt chiếc ví ở cổng chợ xã T và lấy xe đạp đi về nhà. Khi đi đến cầu A thôn T, xã T, T tháo 3 chiếc sim điện thoại vứt ở cầu rồi đi về nhà. T giấu chiếc điện thoại SAMSUNG và chiếc đồng hồ RADO trong phòng ngủ còn sử dụng chiếc điện thoại NOKIA. Số tiền trộm cắp được T chi tiêu hết 3.950.000 đồng, còn lại 1.900.000 đồng chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ.

Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐG ngày 05/5/2020 kết luận: Tại thời điểm định giá ngày 05/4/2020, các tài sản có giá trị như sau: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A7 đã qua sử dụng có giá trị 4.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C300 đã qua sử dụng có giá trị 750.000 đồng; 01 thẻ sim số 0392.113.237 có giá trị 60.000 đồng; 01 thẻ sim số 0971.388.266 có giá trị 50.000 đồng; 01 thẻ sim số 0919.589.502 có giá trị 50.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay (kiểu nữ) hiệu RADO dây đeo bằng kim loại màu vàng đã qua sử dụng có giá trị 800.000 đồng; 01 ví da màu nâu kiểu ví nam đã qua sử dụng có giá trị 150.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản trên là 6.360.000 đồng.

Tng giá trị tài sản T trộm cắp của chị Vũ Thị A là 12.210.000 đồng.

Ngày 10/4/2020, T bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình khởi tố bị can, bắt tạm giam về tội Trộm cắp tài sản tại hội trường thôn V, xã Vũ Lạc, thành phố Thái Bình, đồng thời thu giữ 01 chiếc điện thoại di động NOKIA C300; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A7; 01 đồng hồ đeo tay hiệu RADO và số tiền 1.900.000 đồng là tài sản Thọ trộm cắp của chị Vũ Thị A. Thọ đã khai nhận hành vi phạm tội xảy ra trên địa bàn huyện Kiến Xương.

Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản đã thu giữ trên cho chị Vũ Thị A. Bị hại bà Nguyễn Thị N và chị Vũ Thị A không có yêu cầu, đề nghị bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự chi bị hại.

Ngoài ra trong quá trình điều tra, Phạm Xuân T còn khai nhận thực hiện 04 hành vi trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: khoảng tháng 01/2020, T đến chùa M thuộc thôn N, xã T, huyện Kiến Xương trộm cắp 07 giỏ phong lan của bà Trần Thị N sinh năm 1970 (hiện đang tu tại chùa với pháp danh T) treo ở sân chùa trị giá 1.400.000 đồng.

Vụ thứ hai: khoảng tháng 01/2020, Lê Duy P, sinh ngày 01/12/1997, trú tại: thôn N, xã T, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, điều khiển xe mô tô của mình 03 lần chở Thọ đến trang trại của gia đình chị Phạm Thị T, sinh năm 1979, trú thôn Đ, xã Q, huyện Kiến Xương trộm cắp 06 con gà trị giá 720.000 đồng.

Vụ thứ ba: khoảng 23 giờ ngày 15/02/2020, P điều khiển xe mô tô chở T đi đến miếu T, thôn T, xã Q huyện Kiến Xương trộm cắp tài sản của ông Vũ Văn N sinh năm 1968, trú cùng thôn 01 chiếc âm ly hiệu Califolia màu đen trị giá 500.000 đồng.

Vụ thứ tư: Khoảng 22 giờ ngày 18/02/2020, P điều khiển xe mô tô chở T đi đến lò đốt rác thuộc thôn N, xã N, huyện Kiến Xương do anh Nguyễn Xuân V sinh năm 1971, trú thôn C, xã N trông coi trộm cắp 01 chiếc máy bơm nước loại 1,8m3/h màu xanh do Trung Quốc sản xuất trị giá 600.000 đồng và 01 cuộn dây điện dài khoảng 100m, loại dây 0,75mm, vỏ màu vàng, trị giá 500.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định 04 hành vi nêu trên của Phạm Xuân T và Lê Duy P có giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện Kiến Xương đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Thọ và Phước.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSKX ngày 14/9/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Xuân T về tội danh và điều luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.

Tng hợp hình phạt tại Bản án số 91/2020/HS-ST ngày 14/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt bị cáo 10 tháng tù. Buộc bị cáo phải thi hành hình phạt chung của hai bản án từ 02 năm 7 tháng đến 02 năm 10 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 10/4/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Trả lại bị cáo T 01 xe đạp mini màu xanh, đã qua sử dụng, 01 chiếc áo mưa (kiểu áo khoác màu đen, xám).

Về án phí: Bị cáo Phạm Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào các ngày 03/4/2020 và 05/4/2020, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu tài sản, bị cáo Phạm Xuân T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc máy tính xác tay màu đen nhãn hiệu DELL E5430 của bà Nguyễn Thị N; chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu NOKIA C300 lắp thẻ sim số 0392.113.237, 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A7 lắp thẻ sim số 0971.388.266 và sim số 0919.589.502, 01 đồng hồ đeo tay hiệu RADO, 01 chiếc ví da màu nâu, bên trong có số tiền 5.850.000 đồng và giấy tờ cá nhân của chị Vũ Thị A, tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là là 14.460.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và cáo trạng truy tố, được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Lời khai của của bị hại là chị Vũ Thị A, bà Nguyễn Thị N; Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐG ngày 05/5/2020, số 07/KL-HĐĐG ngày 25/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kiến Xương, phù hợp với những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Từ căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Xuân T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản.

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

.........

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”

[4] Hành vi của bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để thu lợi bất chính, phục vụ nhu cầu của bản thân, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu: ngày 15/10/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Kiến Xương ra quyết định Trung tâm cai nghiện bắt buộc 05 - 06 tỉnh Thái Bình, thời gian 12 tháng; ngày 14/7/2020 Công an huyện Kiến Xương đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; bản án số 91/2020/HSST ngày 04/8/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo không lấy làm bài học mà tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản, vì vậy Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi bị cáo đã gây ra, thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật nước ta và có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, tại bản án số 50/2016/HSST ngày 29/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù giam về tội Hủy hoại tài sản do đó bị cáo phải chịu. Lần phạm tội này bị cáo 02 hành vi trộm cắp tài sản do đó bị cáo phải chịu tình tiết phạm tội 02 lần trở lên và tình tiết tái phạm được quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn khai báo và đã tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Ngoài hình phạt tù, điều luật còn quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền. Hội đồng xét xử thấy tại thời điểm bị cáo phạm tội là lao động tự do, có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: Cơ quan Điều tra Công an huyện Kiến Xương đã thu giữ 01 chiếc xe đạp mini màu xanh, đã qua sử dụng, 01 chiếc áo mưa (kiểu áo khoác màu đen, xám) xét thấy đây là tài sản của bị cáo sử dụng để đi lại sử dụng hàng ngày. Qua quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, xác định được là tài sản của gia đình bị cáo, nên cần trả lại. Các tài sản trên hiện đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương. Đối với 01 điện thoại di động NOKIA C300, 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A7, 01 đồng hồ đeo tay hiệu RADO và số tiền 1.900.000 đồng, cơ quan Điều tra xác định là của chị Vũ Thị A đã trả lại cho chị A. Chiếc máy tính xách tay hiệu DELL 5430 của bà Nguyễn Thị N; chiếc ví da và 03 thẻ sim điện thoại của chị Vũ Thị A, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương đã tiến hành xác minh nhưng không thu hồi được.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền và tài sản không thu hồi được bị hại là bà Nguyễn Thị N và chị Vũ Thị A không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự đối với bị hại nên không đặt ra giải quyết.

[9] Đối với 04 hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo T và Lê Duy P thực hiện trong tháng 01/2020 và tháng 02/2020, tài sản trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, ngày 14/7/2020, Công an huyện Kiến Xương đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T và Phước là phù hợp có căn cứ.

[10] Về án phí: Bị cáo Phạm Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Bị cáo Phạm Xuân T (tên gọi khác V) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Xuân Thọ (tên gọi khác V) 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Tng hợp hình phạt với hình phạt tại Bản án số 91/2020/HS - ST ngày 14/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 10 tháng tù. Buộc bị cáo Phạm Xuân T (tên gọi khác V) thi hành hình phạt hai bản án là 02 năm 07 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/4/2020.

3. Về vật chứng: Trả lại bị cáo Phạm Xuân T (tên gọi khác V) 01 xe đạp mini màu xanh đã qua sử dụng, 01 chiếc áo mưa (kiểu áo khoác màu đen, xám). (Vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình quản lý).

4. Về án phí: Bị cáo Phạm Xuân T (tên gọi khác V) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Có mặt bị cáo Phạm Xuân T, bị hại chị Vũ Thị A tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt bị hại bà Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.


6
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2020/HS-ST ngày 30/09/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:49/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Xương - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về