Bản án 49/2019/HSST ngày 03/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 49/2019/HSST NGÀY 03/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 03 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2019/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Lường Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm ngày: 08/9/1992 tại: Xã Bon Phặng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N S, xã B P, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông: Lường Văn C, sinh năm: 1960 và bà Lường Thị T, sinh năm: 1962; bị cáo có vợ là: Cà Thị H, sinh năm: 1990 và có 01 con 03 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/10/2012, Lường Văn T bị Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng về hành vi Gây rối trật tự công cộng. Trong vụ án này bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 22/12/2018 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 22/12/2018, tại khu vực Nong Sa, xã Chiềng Pấc, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an xã Chiềng Pấc, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang đối tượng Lường Văn T ( SN: 1992, trú tại: Bản N S - B P - Thuận Châu - Sơn La) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa một ít chất bột cục màu trắng và màu hồng ( Theo đối tượng T khai nhận là Heroine và ma túy tổng hợp);

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, BKS: 26B1-543.43.

Kết quả cân tịnh số bột cục màu trắng + hồng thu giữ của đối tượng T có khối lượng 0,45 gam, trích rút 0,10 gam đánh ký hiệu T1 làm mẫu vật gửi giám định, số còn lại 0,35 gam đánh ký hiệu T2 đã niêm phong.

Tại bản Kết luận giám định số: 141/KLMT ngày 25/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là chất ma túy; loại chất Heroine và Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được của Lường Văn T là 0,45 gam loại Heroine và Methamphetamine. ( Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định ).

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, bị can Lường Văn T đã khai nhận như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 22/12/2018, Lường Văn T điều khiển xe máy BKS: 26B1-543.43 từ nhà mình ở bản Nong Sản, xã Bon Phặng, huyện Thuận Châu đến xã Chiềng Pấc, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến bản Co Cại, xã Chiềng Pấc thì T gặp và mua được của 01 người đàn ông dân tộc Thái không quen biết 01 gói ma túy được gói bằng ni lon màu trắng với giá 100.000đ ( Một trăm nghìn đồng ). Sau khi mua được ma túy thì T dấu gói ma túy vào trong túi quần đằng trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe máy trở về, khi đến bản Xi Măng, xã Chiềng Pấc thì gặp một người bạn tên M ( Ở xã Tông Lạnh – Thuận Châu ) nên T đã rủ M đi tìm chỗ để cùng nhau sử dụng ma túy, được M đồng ý nên T đã điều khiển xe máy chở theo M đi đến bản Nong Sa, xã Chiềng Pấc, huyện Thuận Châu để tìm địa điểm sử dụng ma túy. Tuy nhiên khi cả hai vừa đến bản Nong Sa thì đã bị tổ công tác Công an xã Chiềng Pấc, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng là gói ma túy như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 19/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Lường Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, giữ quan điểm truy tố bị cáo Lường Văn T, về tội danh Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 – điểm s khoản 1 Điều 51 - Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ số chứng là 0,35 gam Heroine.

- Chấp nhận việc cơ quan Điều tra đã giao trả 01 chiếc xe máy BKS: 26B1-543.43 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lường Văn H.

Tại phiên tòa bị cáo T có ý kiến: Thừa nhận do nghiện ma túy nên ngày 22/12/2018 đã đến bản Co Cại, xã Chiềng Pấc, huyện Thuận Châu tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Nay bị cáo đã biết tội,đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Ngày 22/12/2018, bị cáo Lường Văn T ( Có căn cước lý lịch như trên ) đã bị bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép 02 loại chất ma tuý (Heroine + Methamphetamine = 0,45 gam ) với mục đích sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi mua, tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận giám định đối với vật chứng là 02 chất ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Lường Văn T đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này .”.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi; Hành vi bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Cụ thể hành vi mua, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước là xâm hại đến chính sức khỏe của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển . . . trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng: Không.

[5] Tình tiết nhân thân: Xét bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc ( Quyết định số: 2144/QĐ-UB ngày 04/10/2012 của UBND tỉnh Sơn La ) mặc dù đã qua thời gian được coi là chưa bị xử lý hành chính. Tuy nhiên cũng là tình tiết cần được xem xét khi quyết định hình phạt, theo quy định tại Điều 50 Bộ luật hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên được áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

[8] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào kết quả xác minh xác định bị cáo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[9] Xử lý vật chứng:

- Đối với vật chứng 0,35 gam Heroine và Methamphetamine ( Số còn lại sau khi trích rút 0,10 gam gửi giám định ) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với việc xử lý vật chứng của cơ quan Điều tra đã giao trả chiếc xe máy BKS: 26B1 – 543.43 cho chủ sở hữu là ông Lường Văn H. Xét là có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Bởi kết quả điều tra xác định khi cho bị cáo mượn xe ông H không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy.

[10] Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do mua của 01 người đàn ông dân tộc Thái không quen biết tại bản Co Cại, xã Chiềng Pấc, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra do bị cáo không cung cấp được tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng cụ thể của đối tượng. Nên cơ quan Điều tra không có cơ sở, để điều tra làm rõ.

[11] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

[12] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 - điểm s khoản 1 Điều 51 - Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Lường Văn T 18 ( Mười tám ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 22/12/2018 ( Ngày bắt giữ bị cáo ).

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

* Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ( Bốn mươi lăm ) ngày, kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo biện pháp thi hành án phạt tù.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư niêm phong có viền xanh đỏ, ngoài ghi: Vật chứng nhập kho vụ Lường Văn T - Tàng trữ trái phép chât ma túy, bắt ngày 22/12/2018. Heroine và Methamphetamine ký hiệu T2 = 0,35 gam + 01 mảnh ni lon màu trắng + 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu.

3. Án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ).

4. Quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Báo cho bị cáo biết quyền được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


102
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2019/HSST ngày 03/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:49/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về