Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 10/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

BẢN ÁN 49/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 10 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm C khai vụ án dân sự thụ lý số 188/2019/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 về Vệc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2019/QĐXXst - HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị V, sinh năm 1982

2. Bị đơn: anh Phạm Văn B (Phạm C B), sinh năm 1977 Cùng trú tại: Thôn 4, xã Gi, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Các đương sự vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 7 năm 2019 và bản tự khai, nguyên đơn chị Mai Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh B kết hôn với nhau và có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Gi, huyện N, tỉnh Ninh Bình vào ngày 06/12/1999 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sinh sống tại Thôn 4, xã Gi cùng gia đình anh B được 09 năm sau đó ra ở riêng. Anh chị chỉ sống hạnh phúc được khoảng 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể hòa hợp. Vì vậy vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Từ cuối năm 2017 mặc dù sinh sống cùng nhau nhưng giữa chị và anh B đã ly thân không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Chị xác định mâu thuẫn giữa chị và anh B trầm trọng, không còn tình cảm vợ chồng nên chị xin ly hôn với anh B để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Chị xác định chị và anh B có 02 con chung là các cháu: Phạm Văn C sinh ngày 01/10/2000 và cháu Phạm Thu H, sinh ngày 27/8/2008. Đối với cháu C đã trưởng thành tự lập được nên chị không đề nghị giải quyết, nguyện vọng của chị xin tiếp tục nuôi cháu H và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và C nợ chung: Chị xin tự thỏa thuận với anh B nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của bị đơn anh Phạm Văn B (Phạm C B) được thể hiện tại bản tự khai ngày 15/8/2019: Anh thừa nhận quá trình kết hôn và chung sống như chị V trình bày là đúng. Anh xác định mâu thuẫn vợ chồng cũng do lỗi của anh là những lần vợ chồng xô xát anh có đánh và có những lời lẽ không đúng với chị V, anh cũng thừa nhận anh chưa làm tròn trách nhiệm của một người chồng. Anh xin lỗi chị V, xin sửa sai và xin chị V tha thứ để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái. Về con chung anh cũng xác định anh và chị V có 02 con chung Phạm Văn C sinh ngày 01/10/2000 và cháu Phạm Thu H, sinh ngày 27/8/2008.

Ngày 19 tháng 7 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện N đã thụ lý vụ án về Vệc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo đơn khởi kiện của chị Mai Thị V. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện N đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thủ tục pháp luật quy định.

Do chị V từ chối hòa giải nên Tòa án không tiến Hnh hòa giải được vì vậy vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.

Tại biên bản xác minh ngày 31/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện N với ủy ban nhân dân xã Gi thì Ủy ban xã xác định: Mâu thuẫn giữa anh B và chị V là có thật và đã xảy ra từ lâu, hiện chị V và anh B đã ly thân. Hiện nay cháu C con chung của anh chị đã trưởng thành tự lập, còn cháu H đang ở với chị V. Anh chị có nhà và đất tại Thôn 4, xã Gi, tuy nhiên anh chị không yêu cầu giải quyết nên Ủy ban không có ý kiến.

Tại đơn xin xử vắng mặt, chị V vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với anh B, xin tiếp tục nuôi con chung là cháu Phạm Thu H sinh ngày 27/8/2008, chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại đơn xin xử vắng mặt của anh B: Anh đồng ý với quan điểm xin ly hôn của chị V, anh đồng ý cho chị V tiếp tục nuôi cháu Phạm Thu H. Vệc cấp dưỡng nuôi con chung anh sẽ tự thỏa thuận với chị V. Về tài sản chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát Vên tại phiên tòa:

*Vệc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

*Vệc chấp Hnh pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn thực hiện đúng đầy đủ các quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS 2015. Bị đơn không tham gia buổi tiếp cận, C khai chưng cứ và hòa giải ngày 05/8/2019. Tại phiên tòa, chị V, anh B vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt, Tòa án vẫn tiến Hnh xét xử là đúng quy định tại điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị HĐXX:

- Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

 Điều 5, 147, 227, 228, 266, 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 điều 27 và danh mục án phí, lệ phí ban Hnh kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu khởi kiện của chị Mai Thị V. Xử ly hôn giữa chị Mai Thị V với anh Phạm Văn B (Phạm C B).

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thu H, sinh ngày 27/8/2008 cho chị Mai Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị V.

3. Về án phí ly hôn: Chị Mai Thị V phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại 4, xã Gi, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3]. Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa, chị V và anh B có đơn xin xử vắng mặt, vì vậy căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến Hnh xét xử là đúng quy định.

[2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:

[2.1].Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh B là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cuộc sống không hòa hợp dẫn đến mâu thuẫn thường xuyên xảy ra. Bản thân anh B cũng thừa nhận do anh chưa làm tròn trách nhiệm của người chồng, nhiều khi giải quyết mâu thuẫn vợ chồng B bạo lực. Thực tế hai bên đã ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chi V với anh B là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2].Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V và anh B xác định có 02 con chung Phạm Văn C sinh ngày 01/10/2000 và cháu Phạm Thu H, sinh ngày 27/8/2008. Hiện nay cháu C đã trưởng tHnh tự lập được nên không đặt ra Vệc xem xét giải quyết. Đối với cháu H, nguyện vọng của chị V xin tiếp tục được nuôi cháu. Sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị V có sức khỏe, có thu nhập đủ đảm bảo nuôi dạy cháu H, ý kiến của cháu H cũng xin tiếp tục ở với chị V. Bản thân anh B cũng đồng ý với nguyện vọng của chị V. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu H cho chị V nuôi là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của các bên và đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị V không có yêu cầu nên không đặt ra Vệc giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung, C nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị V phải nộp theo quy định của pháp luật.

 Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 5, 147, 227, 228, 266, 271 và khoản 1 điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng Các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu khởi kiện của chị Mai Thị V. Xử ly hôn giữa chị Mai Thị V và anh Nguyễn Văn B (Nguyễn C B).

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thu H sinh ngày 27/8/2008, hiện đang ở cùng chị V cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị V.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Mai Thị V phải nộp là 300.000 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2013/0000225 ngày 19/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

4. Quyền kháng cáo: Chị V và anh B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

224
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 10/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:49/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 10/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về