Bản án 49/2018/HNGĐ-ST ngày 08/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 49/2018/HNGĐ-ST NGÀY 08/11/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 08 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2018/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 9 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2018/QĐXX-ST ngày 18 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31 ngày 01 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; đ ịa chỉ cư trú: Thôn X, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Phạm Đức T, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Thôn X, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 06/9/2018 và bản tự khai ngày 20/9/2018 chị H trình bày: Chị tự nguyện kết hôn với anh Phạm Đức T, thời gian năm 2010 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K. Nó i chung vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 07 năm. Tuy nhiên trong quá trình sống chung mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2017 do phong cách sống không còn phù hợp, vợ chồng nghi ngờ nhau sống không chung thủy, không thống nhất trong làm ăn kinh tế. Vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi nhau. Đến tháng 3/2018 và tháng 7/2018 chị đã 02 lần gửi đơn xin ly hôn anh T tại Tòa án nhân dân huyện K. Sau khi Tòa án giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, được gia đình, địa phương khuyên giải để vợ chồng trở lại đoàn tụ, chị đã tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh T. Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2018 và số 18/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/8/2018, nhưng đến nay tình cảm không được cải thiện, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 9/2018 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Do tình trạng hôn nhân ngày càn g trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị xin ly hôn anh T.

Về con chung: Có 02 con là Phạm Thị Tú A, sinh ngày 07/6/2010 và Phạm Đức Quang A1, sinh ngày 21/11/2015. Nếu ly hôn, chị xin tiếp tục nuô i dưỡng cháu Quang A1, nhất trí để anh T nuôi dưỡng cháu Tú A (trên cơ sở nguyện vọng của cháu Tú A) đến khi cả 02 cháu đủ 18 tuổi; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Vì hiện nay chị và anh T đều có công việc làm, thu nhập kinh tế ổn định hàng tháng khoảng 10.000.000 đồng và cả hai vợ chồng đều có nơi ăn ở ổn định, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh T vắng mặt, nhưng theo lời trình bày và yêu cầu của chị H. Tòa án đã xác minh và tống đạt trực tiếp giấy triệu tập ; thông báo thụ lý vụ án; thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ; thông báo về phiên họp và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp của Tòa án cho trưởng thôn X, xã N và chính quyền đ ịa phương để giao lại các văn bản tố tụng trên. Anh T đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng trên nhưng không đến Tòa án và Ủy ban nhân dân xã N để trình bày lời khai; tham gia phiên họp và hòa giải; từ chối khai báo, vắng mặt không có lý do chính đáng. Sau đó Tòa án đã tống đạt trực tiếp và hợp lệ Quyết đ ịnh đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho trưởng thôn X, xã N và Ủy ban nhân dân xã N để giao lại cho anh T. Anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hộ i đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hộ i đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ quy định tại khoản 15, 16 Đ iều 70, khoản 1 Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:

1. Về tố tụng: Anh T là b ị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Đ iều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; đề nghị Hộ i đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T tự nguyện kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 phát s inh mâu thuẫn do phong cách sống không cò n phù hợp, vợ chồng nghi ngờ nhau sống không chung thủy, không thống nhất trong làm ăn kinh tế. Vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi nhau. Đến tháng 3/2018 và tháng 7/2018 chị H gửi đơn xin ly hôn anh T đến Tòa án nhân dân huyện K. Sau khi Tòa án giải thích về quyền và nghĩa vụ, được gia đình, địa phương khuyên giải để vợ chồng trở lại đoàn tụ, chị đã tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh T. Tòa án đã ra quyết đ ịnh đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2018 và số 18/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/8/2018, nhưng đến nay tình cảm không được cải thiện, mâu thuẫn giữa vợ chồng càng trầm trọng, chị Hoa bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 9/2018 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay chị H xin ly hôn anh T là có cơ sở chấp nhận, nên xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp.

Căn cứ khoản 1 Đ iều 51, khoản 1 Đ iều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; đ ề nghị Hộ i đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phạm Đức T.

3. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Phạm Thị Tú A, sinh ngày 07/6/2010 và Phạm Đức Quang A1, sinh ngày 21/11/2015; hiện nay chị H xin được tiếp tục nuô i dưỡng cháu Quang A1; còn cháu Tú A có nguyện vọng được ở với anh T, cần chấp nhận.

Căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử: G iao cháu Phạm Thị Tú A, sinh ngày 07/6/2010 cho anh T nuôi dưỡng; giao cháu Phạm Đức Quang A1, sinh ngày 21/11/2015 cho chị H nuôi dưỡng đến khi 02 cháu đủ 18 tuổ i hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuô i co n, chị H và anh T đều đủ điều kiện kinh tế và chỗ ở ổn định để nuôi con, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ ịnh:

 [1] Về tố tụng: Anh T là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Đ iều 227; khoản 3 Đ iều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

 [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H tự nguyện kết hôn với anh T năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K. Đánh giá chung vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 07 năm. Song trong thời gian sống chung mâu thuẫn phát sinh từ đầu năm 2017 do phong cách sống không còn phù hợp, vợ chồng nghi ngờ nhau sống không chung thủy, không thống nhất trong làm ăn kinh tế. Vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi nhau. Đến tháng 3/2018 và tháng 7/2018 chị H gửi đơn xin ly hôn anh T đến Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy. Sau khi Tòa án giải thích về quyền và nghĩa vụ, được gia đình, địa phương khuyên giải để vợ chồng trở lại đoàn tụ, chị đã tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh T. Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2018 và số 18/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/8/2018, nhưng đến nay tình cảm không được cải thiện, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị H bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 9/2018 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay chị H xin ly hôn anh T là có cơ sở chấp nhận; nên xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp.

 [3] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Phạm Thị Tú A, s inh ngày 07/6/2010 và Phạm Đức Quang A1, sinh ngày 21/11/2015. Chị H xin được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Quang A1; còn cháu Tú A có nguyện vọng ở với anh T được chấp nhận. Cần giao cháu Tú A1 cho anh T nuô i dưỡng; giao cháu Quang A cho chị H nuôi dưỡng đến khi 02 cháu đủ 18 tuổ i hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi co n, chị H và anh T đều đủ điều kiện về kinh tế và chỗ ở ổn định đảm bảo để nuôi con, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

 [4] Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

 [5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Đ iều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Đ iều 147; đ iểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Đ iều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Đ iều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phạm Đức T.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Tú A, sinh ngày 07/6/2010 cho anh T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổ i hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao cháu Phạm Đức Quang A1, sinh ngày 21/11/2015 cho chị H nuô i dưỡng đến khi đủ 18 tuổ i hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, hai bên đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA.0012053 ngày 18 tháng 9 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chị H đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm. Chị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


63
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2018/HNGĐ-ST ngày 08/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:49/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Kiến An - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về