Bản án 48/2020/HS-ST ngày 10/09/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N – TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 48/2020/HS-ST NGÀY 10/09/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 10 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2020/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 03/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Hà Văn Th, sinh năm 1981 tại xã S, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Tên gọi khác: Không ; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn Nh(đã chết) và bà Hà Thị H (đã chết); có vợ là Vũ Thị Thúy H; Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/8/2020, đến ngày 06/8/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Nguyễn Văn Gi, sinh năm 1986 tại xã Tr, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Ch, xã Tr, huyện H, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Gi (đã chết) và bà Hà Thị Th sinh năm 1962; Có vợ là Nguyễn Thị Th và có 02 con: con lớn sinh năm 2010 con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/8/2020, đến ngày 06/8/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

3. Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1981 tại xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn S, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính:

Nam; Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Viết S (đã chết) và bà Đinh Thị H (đã chết); có vơ là Phan Thị T. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/8/2020, đến ngày 06/8/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

4. Ngô Văn Th, sinh năm 1985 tại xã Gi, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Tên gọi khác: Không ; Nơi cư trú: Thôn C, xã Gi, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn S và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị B và có 03 con, lớn sinh năm 2007 nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ 03/8/2020 đến ngày 06/8/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

5. Trần Anh T, sinh năm 1986 tại xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Ph, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Q và bà Phạm Thị N; Có vợ là Phạm Thị T và 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày từ 03/8/2020 đến ngày 06/8/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

6. Trần Văn Ph, sinh năm 1980 tại xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Ng và bà Lê Thị H; Có vợ là Vũ Thị Ng và có 02 con lớn sinh năm 2002 nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày từ 03/8/2020 đến ngày 06/8/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Người chứng kiến: Bà Trần Thị H, sinh năm 1955; Anh Đinh Văn Nsinh năm 1979. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 03/8/2020, Anh Đinh Văn Nsinh năm 1979 ở thôn Th, xã V, huyện N đã rủ Hà Văn Th, Nguyễn Văn Gi, Nguyễn Tuấn D, Ngô Văn Th, Trần Anh T, Trần Văn Ph cùng làm công nhân trong tổ đóng tầu ở xã G, huyện Gi, tỉnh Ninh Bình đến nhà mẹ đẻ của anh N là Bà Trần Thị H sinh năm 1955 ở thôn Th, xã V, huyện N ăn cơm uống rượu.

Khong 12 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong thấy Anh Đinh Văn N đi ngủ thì Hà Văn Th đã nảy sinh ý định đánh bạc nên rủ Trần Anh T, Trần Văn Ph, Ngô Văn Th, Nguyễn Văn Gi, Nguyễn Tuấn D đánh bạc thì mọi người đồng ý. Nguyễn Tuấn D liền lấy tại tủ gỗ trong phòng khách của gia đình nhà bà Hanh 01 bộ tú lơ khơ đã cũ làm công cụ đánh bạc rồi cùng mọi người ngồi xuống nền phòng khách của gia đình bà Hanh để đánh bạc. Trước khi vào đánh bạc thì Hà Văn Th, Nguyễn Tuấn D, Trần Anh T, Trần Văn Ph, Ngô Văn Th, Nguyễn Văn Gi thống nhất hình thức đánh bạc bằng hình thức “Đánh Liêng” được thua bằng tiền, mức cá cược mỗi ván bài thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng. Hà Văn Th, Nguyễn Tuấn D, Trần Anh T, Trần Văn Ph, Ngô Văn Th, Nguyễn Văn Gi bắt đầu ngồi đánh bạc từ khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/8/2020. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày đã bị Tổ công tác Công an xã Văn Phú phối hợp cùng Công an xã Thanh Lạc, Văn Phương, Phú Lộc, huyện N bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 8.990.000 đồng, 01 bộ bài lơ khơ 52 quân. Ngoài ra tổ công tác còn thu của Hà Văn Th 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 59G1 – 286.35, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng; thu của Nguyễn Tuấn D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 30N7-9487, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; thu của Ngô Văn Th 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 35H4-1589, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Grand; thu của Trần Anh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro màu tím; thu của Nguyễn Văn Gi 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M20; thu của Trần Văn Ph 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7Pro màu xanh.

Quá trình điều tra đã chứng minh số tiền Hà Văn Th, Nguyễn Tuấn D, Trần Anh T, Trần Văn Ph, Ngô Văn Th, Nguyễn Văn Gi sử dụng vào mục đích đánh bạc là 8.990.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án và tài sản đã thu giữ:

Đi với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 59G1 – 286.35, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng là tài sản hợp pháp của Hà Văn Th; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 30N7-9487, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO là tài sản hợp pháp của Nguyễn Tuấn D;

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 35H4-1589, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Grand là tài sản hợp pháp của Ngô Văn Th; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7Pro màu tím là tài sản hợp pháp của Trần Anh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M20 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn Gi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7Pro màu xanh là tài sản hợp pháp của Trần Văn Ph. Quá trình điều tra đã xác định không không sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho Hà Văn Th, Nguyễn Tuấn D, Ngô Văn Th, Trần Anh T, Nguyễn Văn Gi, Trần Văn Ph.

Đi với số tiền 8.990.000 đồng; 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài ký hiệu từ A đến K là công cụ, phương tiện các bị can sử dụng vào việc đánh bạc. Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện N chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình; Các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 03/QĐ-VKSNQ-HS ngày 25/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố các bị cáo Hà Văn Th, Nguyễn Tuấn D, Ngô Văn Th, Trần Anh T, Nguyễn Văn Gi, Trần Văn Ph về tội: Đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Thẩm phán chủ tọa phiên tòa tuyên bố các bị cáo Hà Văn Th, Nguyễn Tuấn D, Ngô Văn Th, Trần Anh T, Nguyễn Văn Gi, Trần Văn Ph phạm tội: “Đánh bạc”.

* Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 BLHS.

- Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn Th từ 23.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Ngô Văn Th, Trần Anh T, Nguyễn Văn Gi mỗi bị cáo từ 21.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

* Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 BLHS.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn Ph từ 20.000.000 đồng đến 21.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu của các bị cáo 8.990.000 đồng đồng đây là số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc của bị cáo. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài ký hiệu từ A đến K là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N.

Lời nói sau cùng của các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với tang vật đã thu giữ. Mặt khác được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ để kết luận: Trưa ngày 03/8/2020 tại nhà Bà Trần Thị H sinh năm 1955 ở thôn Th, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình các bị cáo Hà Văn Th, Nguyễn Tuấn D, Ngô Văn Th, Trần Anh T, Nguyễn Văn Gi, Trần Văn Ph đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức “Đánh Liêng” được thua bằng tiền với số tiền sử dụng để đánh bạc là 8.990.000 đồng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Điều 321. Tội đánh bạc 1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…………………………………………

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trước khi quyết định hình phạt Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, xét thấy:

Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi đánh bạc của các bị cáo là cố ý, tính chất tội phạm là ít nghiêm trọng đã xâm phạm trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân là nguyên nhân gây nên nhiều tội phạm khác.Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án thật nghiêm như vậy mới có tác dụng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung cũng như giúp các bị cáo có thời gian cải tạo rèn luyện mình. Tuy nhiên xét các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Riêng bị cáo Trần Văn Ph có bố đẻ ông Trần Văn Ngọc là người có công với cách mạng: Ông Ngọc là bệnh binh và có Huy chương kháng chiến hạng nhất, vì vậy bị cáo Phú được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này, hành vi phạm tội của các bị cáo mặc dù không có tính chất tổ chức, hình thức phạm tội là đồng phạm giản đơn. Nhưng cũng cần cá thể hóa vai trò của từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Bị cáo Hà Văn Th là người khởi xướng việc đánh bạc bằng hình thức “Đánh Liêng” được thua bằng tiền đồng thời cũng là người thực hành tích cực. Vì vậy bị cáo Toàn và phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với vai trò thứ nhất.

Đi với các bị cáo Trần Anh T, Trần Văn Ph, Ngô Văn Th, Nguyễn Văn Gi, Nguyễn Tuấn D giữ vai trò là người thực hành tích cực khi được Hà Văn Th rủ đánh bạc. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò thứ hai trong vụ án này.

Từ những nhận định trên xét thấy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng Điều 35 BLHS xét xử các bị cáo hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này đối với Bà Trần Thị H là chủ nhà nhưng không biết việc Hà Văn Th, Nguyễn Văn Gi, Nguyễn Tuấn D, Ngô Văn Th, Trần Anh T, Trần Văn Ph đánh bạc tại gia đình mình. Anh Đinh Văn Nkhông tham gia đánh bạc.

Vì vậy bà TrầnThị Hanh và Anh Đinh Văn Nkhông phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này.

[3]. Về hình phạt bổ sung:

Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung.

[4]. Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 59G1 – 286.35, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng là tài sản hợp pháp của Hà Văn Th; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 30N7-9487, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO là tài sản hợp pháp của Nguyễn Tuấn D;

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 35H4-1589, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Grand là tài sản hợp pháp của Ngô Văn Th; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7Pro màu tím là tài sản hợp pháp của Trần Anh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M20 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn Gi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7Pro màu xanh là tài sản hợp pháp của Trần Văn Ph. Quá trình điều tra đã xác định không không sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho Hà Văn Th, Nguyễn Tuấn D, Ngô Văn Th, Trần Anh T, Nguyễn Văn Gi, Trần Văn Ph là phù hợp.

+ Đối với số tiền 8.990.000 đồng, đây là số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc của các bị cáo cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài ký hiệu từ A đến K là công cụ phạm tội xét không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Hà Văn Th, Nguyễn Tuấn D, Ngô Văn Th, Trần Anh T, Nguyễn Văn Gi, Trần Văn Ph phạm tội“Đánh bạc”.

*Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 35 BLHS;

- Xử phạt bị cáo Hà Văn Th 23.000.000 đ (hai mươi ba triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn D 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Ngô Văn Th 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Trần Anh T 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Gi 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

*Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS;

- Xử phạt bị cáo Trần Văn Ph 20.000.000đ(hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 8.990.000đ (Tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).

+ Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ từ A đến K.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N; Ủy nhiệm chi tại kho bạc huyện N).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Hà Văn Th, Nguyễn Tuấn D, Ngô Văn Th, Trần Anh T, Nguyễn Văn Gi, Trần Văn Ph mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. 


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2020/HS-ST ngày 10/09/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:48/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về