Bản án 48/2020/HNGĐ-ST ngày 24/08/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

BẢN ÁN 48/2020/HNGĐ-ST NGÀY 24/08/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 24 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 66/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 03 năm 2020, về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2020/QĐXX-ST ngày 14 tháng 7 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 37/QĐ-HPT ngày 31-7-2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số 7, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài Ph, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số 7 tổ 2, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vắng mặt lần 2 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 02 năm 2020 và quá trình tố tụng tại tòa bàNguyễn Thị Minh T trình bày: Bà Nguyễn Thị Minh T và ông Nguyễn Hoài Ph tự nguyện sống chung với nhau vào khoảng năm 1996 đến năm 2001 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Cuộc sống chung không hạnh phúc. Nguyên nhân: Do bất đồng quan điểm dẫn đến cải vã nhau, ông Ph không có trách nhiệm đối với gia đình và còn có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác đã có con riêng. Nay bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: có 02 con chung Nguyễn Ngọc Lan Q, sinh năm 1997 và Nguyễn Đức Ph, sinh năm 2001; Con chung đã trưởng thành.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu tòa án giải quyết.

Từ khi Toà án thụ lý vụ án, đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Hoài Ph đến Toà giải quyết ly hôn nhưng ông Ph vắng mặt không có lý do nên không xác định rõ yêu cầu.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ Thẩm phán và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Bị đơn không tuân theo quy định của pháp luật.

Tại phiên xét xử, Hội đồng xét xử, thư ký và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, quá trình tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: BàNguyễn Thị Minh T yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Hoài Ph nên xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Ph hiện cư trú tại xã H, huyện Long Điền nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Hoài Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét về quan hệ hôn nhân: BàNguyễn Thị Minh T và ông Nguyễn Hoài Ph sống chung với nhau từ năm 1996, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên hôn nhân giữa bà T và ông Ph là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T xác nhận: Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: Do ông Ph có quan hệ ngoại tình và đã có con riêng với người phụ nữ khác từ đó vợ chồng tự sống ly thân đến nay. Tại phiên tòa, bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu được ly hôn.

Qua thu thập chứng cứ thể hiện: Bà T và ông Ph đều có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại nhà số 7 tổ 2, ấp Hải Sơn, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà T và ông Ph thì địa phương không rõ. Theo bà T nói lại là ông Ph có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác nên ít sinh sống tại nhà.

Về phía ông Ph, Tòa án nhiều lần triệu tập đến Tòa lấy lời khai và hòa giải nhưng ông vắng mặt cũng không có ý kiến phản hồi, chứng tỏ ông Ph không muốn duy trì cuộc sống chung với bà T. Theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì “vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Xét thấy, hôn nhân của bà T và ông Ph lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 2 Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

[2.2] Về con chung: đã trưởng thành nên không giao quyền nuôi dưỡng.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông Ph.

- Về quan hệ hôn nhân: BàNguyễn Thị Minh T được ly hôn ông Nguyễn Hoài Ph.

- Về con chung: Đã trưởng thành.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Minh T nộp 300.000(Ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 000255 ngày 24-02-2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền. Bà T đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt quyền kháng cáo bản án 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2020/HNGĐ-ST ngày 24/08/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:48/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Điền - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về