Bản án 48/2019/HNGĐ-ST ngày 09/09/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 48/2019/HNGĐ-ST NGÀY 09/09/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 09 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 165/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2019 về việc: “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986

Trú tại: Thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

2. Bị đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993

Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình

Chỗ ở hiện tại: Thôn Đ1, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

3. Người phiên dịch cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964

Trú tại: Thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Các đương sự vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 6 năm 2019 và bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau và có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình vào ngày 28/12/2012 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng anh chị sinh sống tại Thôn Đ, xã V cùng gia đình anh T. Hai vợ chồng chỉ sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do khi lấy nhau không tìm hiểu kỹ, dẫn đến khi về chung sống phát sinh nhiều bất đồng không thể hòa hợp. Vì vậy tháng 4/2013 chị T đã bỏ về nhà bố đẻ tại Thôn Đ1, xã V ở, hai bên ly thân từ đó đến nay. Anh xác định mâu thuẫn giữa anh và chị T trầm trọng, không còn tình cảm vợ chồng nên anh xin ly hôn với chị T để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: anh xác định giữa anh và chị T không có con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Anh xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

Ngày 01 tháng 7 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện N đã thụ lý vụ án về việc “Ly hôn” theo đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn T. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện N đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thủ tục pháp luật quy định.

Do anh Nguyễn Văn T là người bị câm điếc bẩm sinh, vì vậy sau khi Tòa án huyện N thụ lý vụ án, ông Nguyễn Văn N là bố đẻ của anh T đã có đơn đề nghị Tòa án cho ông được là người phiên dịch của anh T vì ông có thể hiểu biết được ngôn ngữ ký hiệu của anh T. Vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 81 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án huyện N đã chấp nhận và quyết định đưa ông Nguyễn Văn N tham gia tố tụng vụ án này với tư cách người phiên dịch cho anh T.

Đối với chị Nguyễn Thị T mặc dù đã biết việc Tòa án nhân dân huyện N đã thụ lý giải quyết vụ án anh T xin ly hôn với chị, nhưng chị T vẫn không gửi văn bản trả lời thông báo thụ lý vụ án đến Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Theo biên bản xác minh của Tòa án với Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân xã V thì hiện nay chị Nguyễn Thị T vẫn đăng ký hộ khẩu tại xã T, huyện N. Tuy nhiên khi ly thân với anh T thì chị T không về sinh sống tại T mà chị về sống cùng bố đẻ là ông Nguyễn Văn C tại Thôn Đ1, xã V, huyện N. Ủy ban nhân dân xã V cũng xác nhận mâu thuẫn giữa anh T và chị T là do không hòa hợp, bất đồng quan điểm. Ủy ban đã tống đạt các văn bản của Tòa án cho chị T, tuy nhiên chị T đi làm vào giờ hành chính nên không tống đạt được trực tiếp mà ông C là bố đẻ chị T nhận thay và cam đoan thông báo cho chị T biết Tại biên bản lấy lời khai ngày 16 tháng 7 năm 2019, ông Nguyễn Văn C bố đẻ chị T trình bày: Ông cho rằng từ khi ly thân với anh T thì chị T về sinh sống cùng ông tại Thôn Đ1, xã V. Mọi thông báo của Tòa án về việc anh T xin ly hôn với chị T ông đều thông báo cho chị T biết. Do chị T đi làm thuê không có thời gian đến Tòa án làm việc.

Tại đơn xin xử vắng mặt, nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với chị T.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

*Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

* Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng đầy đủ các quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS 2015. Bị đơn không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa, anh T và ông N vắng mặt có đơn xin xử vắng măt, chị T vắng mặt lần 2 không có lí do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định tại điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị HĐXX:

- Áp dụng các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 5, 147, 227, 228, 266, 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 điều 27 và danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T.

Xử ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T với chị Nguyễn Thị T.

Về án phí ly hôn: Anh Nguyễn Văn T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình và nơi ở hiện tại là Thôn Đ1, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3]. Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa, anh T và ông N vắng mặt có đơn xin xử vắng măt, chị T vắng mặt lần 2 không có lí do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định tại điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:

[2.1].Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trước khi lấy nhau hai bên không tìm hiểu kỹ, vì vậy lúc về chung sống với nhau cuộc sống không hòa hợp dẫn đến mâu thuẫn thường xuyên xảy ra. Thực tế hai bên đã ly thân từ tháng 4/2013 cho đến nay chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T với chị T là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2].Về con chung: Anh T xác nhận anh và chị T không có con chung nên không đặt ra việc giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: anh T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh T phải nộp theo quy định của pháp luật.

 Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 5, 147, 227, 228, 266, 271 và khoản 1 điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T. Xử ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T.

2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: anh Nguyễn Văn T phải nộp là 300.000 đồng. Được trừ vào số tiền tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2013/0000200 ngày 01/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

3. Quyền kháng cáo: Anh T và chị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

167
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2019/HNGĐ-ST ngày 09/09/2019 về ly hôn

Số hiệu:48/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về