Bản án 48/2018/HNGĐ-ST ngày 28/09/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 48/2018/HNGĐ-ST NGÀY 28/09/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 269/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu N, sinh năm 1984. (Có mặt)

Địa chỉ: Khu vực D, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở hiện nay: Số U, đường N, phường A, quận K, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Anh Trần Chí B, sinh năm 1975. (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực D, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 02/8/2018, nguyên đơn chị Phạm Thị Thu N trình bày:

Năm 2008, sau một thời gian tìm hiểu, chị và anh Trần Chí B đã tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Châu Văn Liêm vào ngày 10/12/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến khoảng năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về cuộc sống, thường bất hòa về tình cảm và kinh tế nên thường hay cãi nhau dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Quỳnh G (nữ, sinh ngày 18/5/2015) hiện chị đang nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu G đến trưởng thành, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tại Bản tự khai ngày 31/8/2018, bị đơn anh Trần Chí B trình bày:

Anh và chị Phạm Thị Thu N là vợ chồng xây dựng hôn nhân vào năm 2008. Cuộc hôn nhân do tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Châu Văn Liêm theo quy định. Quá trình chung sống, anh và chị N có 01 con chung tên Trần Quỳnh G (sinh ngày 18/5/2015). Thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về cuộc sống, thường bất hòa về tình cảm và kinh tế gia đình nên thường xuyên cãi nhau, anh đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn nên chị N đã làm đơn khởi kiện ly hôn với anh. Do đó, anh đồng ý ly hôn với chị N.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Quỳnh G (nữ, sinh ngày 18/5/2015) hiện chị N đang nuôi dưỡng. Anh đồng ý ổn định cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng cháu G đến trưởng thành, anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ đôi vơi bị đơn anh Trần Chí B để tham gia tố tụng tại Tòa án. Do anh B có đơn xin vắng mặt nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, do đó, Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 207 và Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn chị Phạm Thị Thu N vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Trần Chí B. Đồng thời, chị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có.

- Bị đơn anh Trần Chí B có đơn xin vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về quan hệ pháp luật: Chị Phạm Thị Thu N và anh Trần Chí B tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn, chị N khởi kiện ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Chí B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, anh B có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử văng măt  anh B theo quy định tại Khoan  1 Điêu 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

 [3] Xét quan hệ hôn nhân: Chị N và anh B chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2013, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn.Tại phiên tòa, chị N cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn la do anh B có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường hay cãi nhau, chị đã cố gắng hàn gắn nhưng không đạt kết quả mà mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, chị và anh B đã ly thân từ năm 2016 đến nay, vợ chồng đã không còn quan tâm gì đến nhau nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh B.

Về phía anh B, mặc dù vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong Bản tự khai ngày 31/8/2018, anh B cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị N. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa các đương sự đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ để chấp nhận.

 [4] Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Quỳnh G (nữ, sinh ngày 18/5/2015).

Hiện nay cháu G đang sống chung với chị N, khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành, anh B đồng ý. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và sự thỏa thuận này không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Mặc dù anh B không trực tiếp nuôi con nhưng pháp luật dành cho anh Bquyền được thăm nom con chung, không ai được cản trở anh B thực hiện quyền này.

Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị N cho rằng hiện nay chị có công việc và thu nhập ổn định đủ khả năng nuôi con nên chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

 [5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh B cùng thừa nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

 [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên  xử  : Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thu N.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu N được ly hôn với anh Trần Chí B.

 - Về con chung: Giao cháu Trần Quỳnh G (nữ, sinh ngày 18/5/2015) cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh B được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh B thực hiện quyền này.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Thu N phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 005568 ngày 13/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ thành án phí (công nhận chị N đã nộp án phí xong).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2018/HNGĐ-ST ngày 28/09/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:48/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ô Môn - Cần Thơ
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về