Bản án 48/2018/HNGĐ-ST ngày 27/04/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 48/2018/HNGĐ-ST NGÀY 27/04/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 27 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1039/2017/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2017 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 42/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12/4/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị L, sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ 16 Xuân Ngọc, Vĩnh Ngọc, Nha Trang. Có mặt.

2. Bị đơn: Phan Văn L, sinh năm 1979

Địa chỉ: Tổ 16 Xuân Ngọc, Vĩnh Ngọc, Nha Trang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 14/02/2017, đơn khởi kiện bổ sung ngày 02/10/2017, bản tự khai ngày 27/10/2017, các biên bản hòa giải ngày 08/01/2018, 25/01/2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà Nguyễn Thị L và ông Phan Văn L tự nguyện kết hôn với nhau năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang. Trong cuộc sống chung hai bên xảy ra nhiều mâu thuẫn, ông L không lo chăm chỉ làm ăn, hay nghi ngờ vợ không chung thủy, bà L đã nhiều lần giải thích nhưng ông L vẫn không thay đổi suy nghĩ. Từ đó, bất hòa giữa hai bên thường xuyên xảy ra, cuộc sống ngày càng căng thẳng. Nay bà L nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với ông L được nữa vì mâu thuẫn đã kéo dài không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Phan Văn L có 02 con chung là Phan Nguyễn Trà M, sinh ngày 01/4/2006 và Phan Nguyễn Gia K, sinh ngày 04/6/2010. Nay bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi 02 con chung là Phan Nguyễn Trà M, sinh ngày 01/4/2006 và Phan Nguyễn Gia K, sinh ngày 04/6/2010, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã tiến hành xác minh và thực hiện việc tống đạt và niêm yết nhiều lần theo quy định pháp luật nhưng ông Phan Văn L vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị L và ông Phan Văn L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn và có địa chỉ cư trú tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Do trong cuộc sống vợ chồng bà L và ông L bất đồng quan điểm nên dẫn đến việc bà L xin ly hôn. Xét việc ly hôn của bà L là đúng pháp luật, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Trong đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành thủ tục xác minh tình trạng hôn nhân, nguyện vọng của vợ, chồng, con  có  liên quan đến vụ án đang giải quyết. Theo biên bản xác minh ngày 26/02/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang cho thấy: Hiện nay bà Nguyễn Thị L và ông Phan Văn L chung sống với nhau tại địa phương, trong quá trình chung sống địa phương không nghe thông báo, trình báo về việc mâu thuẫn nên địa phương không nắm rõ.

Theo quy định tại đoạn 2 khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự: “Đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên...” và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của các cháu Phan Nguyễn Trà M, sinh ngày 01/4/2006 và cháu Phan Nguyễn Gia K, sinh ngày 04/6/2010, nguyện vọng của các cháu là được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan Văn L vắng mặt nhiều lần không có lý do. Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang và tại địa chỉ nơi ở của ông Phan Văn L tại Tổ 16, thôn Xuân Ngọc, xã Vĩnh Ngọc, Nha Trang theo Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Phan Văn L vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Phan Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang (theo giấy chứng nhận kết hôn số 38/2005 cấp ngày 04/7/2005). Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo lời khai của bà L cho thấy vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, ông L không lo chăm chỉ làm ăn, hay nghi ngờ vợ không chung thủy, bà Luyến đã nhiều lần giải thích nhưng ông L vẫn không thay đổi suy nghĩ. Từ đó, bất hòa giữa hai bên thường xuyên xảy ra, cuộc sống ngày càng căng thẳng. Hội đồng xét xử thấy rằng cuộc sống chung của bà L và ông L có nhiều mâu thuẫn, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của bà L là có cơ sở và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Phan Văn L có 02 con chung là Phan Nguyễn Trà M, sinh ngày 01/4/2006 và Phan Nguyễn Gia K, sinh ngày 04/6/2010. Nay bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi 02 con chung là Phan Nguyễn Trà M, sinh ngày 01/4/2006 và Phan Nguyễn Gia K, sinh ngày 04/6/2010, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng từ trước đến nay cháu M và cháu K được bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ổn định, đảm bảo cho các cháu phát triển toàn diện về thể chấp và tinh thần, ngoài ra bà L hiện tại có nơi ở và việc làm cùng với mức lương ổn định, hơn nữa nguyện vọng của cháu M và cháu K mong muốn được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Do đó, cần tiếp tục giao cho bà L chăm sóc, giáo dục hai con chung là phù hợp với khả năng và nguyện vọng của bà L cũng như của hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung bà L không yêu cầu nên hội đồng xét xử không xem xét. Ông L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; giao con chung là Phan Nguyễn Trà M, sinh ngày 01/4/2006 và Phan Nguyễn Gia K, sinh ngày 04/6/2010 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng và tài sản chung bà L không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 227 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử :

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Phan Văn L.

2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Phan Nguyễn Trà M, sinh ngày 01/4/2006 và cháu Phan Nguyễn Gia K, sinh ngày 04/6/2010 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Phan Văn L.

Ông Lực có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0007521 ngày 05/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà L đã nộp đủ án phí.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


110
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2018/HNGĐ-ST ngày 27/04/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:48/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về