Bản án 47/2020/HS-ST ngày 25/12/2020 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 47/2020/HS-ST NGÀY 25/12/2020 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2020/TLST- HS ngày 30 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:47/2020/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Bá B, sinh ngày 15/6/1980; tại huyện T, thành phố Hà Nội; nơi ĐKNKTT: Tổ A, phường C, thị xã N, tỉnh Yên Bái; chỗ ở: Thôn T, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá C, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1956; vợ là Hà Thị H, sinh năm 1984 (đã ly hôn) có 01 con sinh năm 2018.

- Tiền án: Không - Tiền sự: Không - Nhân thân:

+ Ngày 29/3/2001 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 11 năm tù về tội "Cố ý gây thương tích", ngày 30/8/2005 được đặc xá tha tù trước thời hạn, đã xóa án tích.

+ Ngày 20/4/2007 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", đã xóa án tích.

+ Ngày 23/01/2007 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã N ra Quyết định đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc tỉnh Yên Bái, thời gian cai nghiện 24 tháng.Tuy nhiên,cùng thời điểm đó bị cáo đang bị tạm giam và chấp hành án về tội Trộm cắp tài sản. Sau khi chấp hành án xong trở về địa phương các cơ quan pháp luật không yêu cầu hay đôn đốc bị cáo phải đi thi hành quyết định trên, nên xác định không còn tiền sự.

+ Ngày 25/7/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/8/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.

- Bị hại: Cầm Thị Ngọc B, sinh ngày 13/01/2011; trú tại: Tổ T, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái."Vắng mặt".

- Người Đại diện hợp pháp của bị hại Cầm Thị Ngọc B đồng thời là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lò Thị V, sinh năm 1990 trú tại: Tổ T, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái."Vắng mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 20/8/2020 Nguyễn Bá B điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 33N5-7965 đến tổ T, phường T, thị xã N. Khi đến trước cổng nhà chị Lò Thị V, B dừng xe lại, để xe ở ngoài đường đi vào trong nhà với mục đích hỏi mua ổi để ăn. B gọi không thấy ai trả lời, lúc này tại nhà chị V chỉ có con gái là cháu Cầm Thị Ngọc B đang nằm trên giường, không có ai ở nhà. B hỏi cháu B "bố mẹ cháu đâu", cháu B trả lời "bố mẹ cháu không có ở nhà", lúc này B nhìn thấy bên cạnh cháu B có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, B nảy sinh ý định chiếm đoạt. B tiến tới dùng tay trái cầm chiếc điện thoại cho vào túi quần đang mặc rồi nhanh chóng đi ra ngoài, khi vừa bước được mấy mét thì cháu B có chạy theo gọi đòi nhưng B đã nhanh chóng đi ra ngoài cổng lên xe mô tô tẩu thoát. Sau khi nhận được tin báo của chị Lò Thị V, ngày 21/8/2020 Công an thị xã Nghĩa Lộ triệu tập Nguyễn Bá B lên làm việc, tại cơ quan điều tra B đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, ngày 24/8/2020 B đã tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại di động nêu trên cho cơ quan điều tra.

Kết luận định giá tài sản số 20 ngày 11/9/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Nghĩa Lộ kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung loại Galaxy J7 Pro J730 Gold trị giá 550.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 52/CT-VKS-NL ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố bị cáo Nguyễn Bá Biên về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; tự nguyện khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, * Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá B phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.

- Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

+ Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, xác định chị Lò Thị V là chủ sở hữu hợp pháp nên cơ quan Điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ đã trả lại cho chị V là đúng nên cần chấp nhận.

+ Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha gắn biển kiểm soát 33N5-7965. Biên khai nhận chiếc xe là biên mượn của một người bạn tên là K, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể. Kết quả điều tra xác định chiếc xe gắn biển số giả, thực tế xe có biển kiểm soát 21G1-072.42 là của chị Mùa Thị C, sinh năm 1996 trú tại bản H, xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái. Sau khi mua chiếc xe trên chị Mùa Thị C đã bán lại chiếc xe cho cửa hàng xe máy M tại thị trấn M, sau đó cửa hàng này đã bán cho một người khác không biết tên, địa chỉ. cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng vẫn chưa xác định được, nên tách ra để xử lý sau.

- Về trách nhiệm dân sự: Chị V không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định;

* Bị cáo không tranh luận gì với Kiểm sát viên, thành khẩn khai báo và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi mà mình đã thực hiện, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện, Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 20/8/2020 Nguyễn Bá B đi xe mô tô đến nhà chị Lò Thị V tại tổ T, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái với mục đích hỏi mua ổi để ăn, thấy có cháu Cầm Thị Ngọc B ở nhà một mình đang nằm trên giường, sau khi biết không có người lớn ở nhà, B quan sát thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung đang để bên cạnh cháu B nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, Biên tiến tới dùng tay trái cầm chiếc điện thoại cho vào túi quần đang mặc rồi nhanh chóng đi ra ngoài, khi B đi được mấy mét thì cháu B chạy theo gọi và đòi, lúc này B nhanh chóng đi ra ngoài cổng lên xe nổ máy rồi tẩu thoát. Giá trị tài sản mà B chiếm đoạt là 550.000 đồng.

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, bị cáo Nguyễn Bá B là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Cướp giật tài sản của người khác sẽ bị xử lý theo pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu sài nên bị cáo cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo là công khai, trắng trợn, thực hiện hành vi phạm tội đối với cháu Cầm Thị Ngọc B 09 tuổi, là người dưới 16 tuổi.

Từ những căn cứ trên đã có đủ cơ sở khẳng định hành vi mà bị cáo Nguyễn Bá B thực hiện đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo; tự nguyện khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân: Trong các năm 2001, 2007 bị cáo đã 02 lần bị kết án về các tội cố ý gây thương tích và xâm phạm sở hữu; năm 2007 và 2014 bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc. Đến nay tuy không bị coi là người có tiền án, tiền sự nhưng thể hiện là người có nhân thân xấu.

[5] Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải xử lý bị cáo một cách nghiêm minh, với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại Trại giam để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa và trấn áp tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nghiện chất ma túy và không có tài sản riêng. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung là tài sản của chị Vđể ở nhà cho cháu Cầm Thị Ngọc B sử dụng khi chị đi làm, bị B chiếm đoạt. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị V là phù hợp.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha gắn biển kiểm soát 33N5-7965. B khai nhận chiếc xe là biên mượn của một người bạn tên là K, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể. Kết quả điều tra xác định chiếc xe gắn biển số giả, thực tế xe có biển kiểm soát 21G1-072.42 là của chị Mùa Thị C, sinh năm 1996 trú tại bản H, xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái. Sau khi mua chiếc xe trên chị C đã bán lại chiếc xe cho cửa hàng xe máy M, thị trấn M, sau đó cửa hàng này đã bán cho một người khác không biết tên, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng vẫn chưa xác định được, nên đã tách ra để xử lý sau là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Chị V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự theo quy định của pháp luật;

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá B phạm tội “Cướp giật tài sản”.

[2] Về hình phạt:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Biên 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về án phí:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ¸án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Bá B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Chị Lò Thị V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

216
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2020/HS-ST ngày 25/12/2020 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:47/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/12/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về