Bản án 47/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 47/2019/HS-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2019/TLST-HS ngày 15/11/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng Thị Đ, tên gọi khác: Không, sinh năm 1970, tại, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; chỗ ở hiện nay Bản M, xã N, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Giáy; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Văn S và bà Lò Thị L; chồng Sẻ Văn Ph, sinh năm 1965; bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền sự: 01 (ngày 14/02/2019 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ đã ban hành Quyết định số 03/QĐ-XPHC Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Vàng Thị Đ do vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực về phòng chống và kiểm soát ma túy). ; Tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28 tháng 7 năm 2019 đến ngày 06 tháng 8 năm 2019 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ, ngày 28/7/2019 Vàng Thị Đ sinh năm 1970 trú tại Bản M, xã N, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu là đối tượng nghiện ma túy đã gọi điện cho Lò Thị Th (tên thường gọi là mẹ M) sinh năm: 1970 trú tại: khu 7 bản N – Bản Lang để hỏi mua heroine với giá là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng chẵn) Th đồng ý bán cho Đ. Sau đó Đ đi bộ đến nhà Vàng Văn T nhờ T trở đi, lúc đi Đ không nói với T là Đ đi mua heroine về sử dụng. T đồng ý chở Đ đi, đến khoảng 09 giờ cùng ngày khi đi đến trạm biến áp thuộc bản N – Bản Lang thì Đ bảo T dừng xe và đợi Đ ở đây, Đ đi bộ một đoạn thì gọi điện cho Lò Thị Th. Khoảng vài phút sau, một người thanh niên khoảng hơn 20 tuổi (Điều không biết rõ họ tên, địa chỉ) điều khiển xe máy đến chỗ Đ đang đứng đưa cho Đ một gói heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng túm xoắn lại, nhận gói heroine Đ cất giấu vào vết rách ở mặt bên trong màu trắng chiếc khẩu trang của Đ đem theo và cầm ở tay phải đồng thời trả cho thanh niên kia 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng chẵn), nhận được tiền người thanh niên đi đâu làm gì Đ không biết còn Đ quay lại chỗ T đang đứng đợi rồi đi về. Khi về đến khu vực bản H – N – Phong Thổ - Lai Châu thì gặp tổ công tác Công an huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đang làm nhiệm vụ, đã yêu cầu T và Đ dừng xe để kiểm tra, khi thấy tổ công tác Công an huyện Phong Thổ Điều đã làm rơi chiếc khẩu trang bên trong có chứa heroine đang cầm ở tay phải xuống mặt đường cạnh chỗ Đ đứng để tránh bị phát hiện, nhưng tổ công tác đã phát hiện và yêu cầu Đ nhặt lên để kiểm tra, khi kiểm tra thì phát hiện mặt trong màu trắng của chiếc khẩu trang bị rách ở giữa, bên trong vết rách có một gói nhỏ được gói ngoài bằng bốn lớp nilon màu hồng vặn xoắn lại, khi mở lớp nilon ra bên trong là heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ và thu giữ gói heroine.

Một gói heroine thu giữ được của Vàng Thị Đ đã được đem đi giám định có kết quả kết luận là ma túy loại heroine có khối lượng là 1,71 gam Bản cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Vàng Thị Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình như nội dung vụ án.

Tại phiên toà vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Vàng Thị Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS Xử phạt bị cáo Vàng Thị Điều từ 12 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng khoản 1 điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu huỷ 1,54 gam Heroin còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ phong bì dùng để niêm phong; Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động loại bàn phím, màu vàng, đen nhãn hiệu ITEL. Trong máy có 02 khe sim. Sim 01 có số thuê bao 0354782033, sim 02 có số thuê bao là 0854811884 cả hai sim đều đang hoạt động bình thường. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, căn cứ vào lời khai của bị cáo, ý kiến của kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên Tòa ngày hôm nay phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong vật chứng; biên bản kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tài liệu chứng cứ khác đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 28 tháng 7 năm 2019, tại khu vực bản H, xã N, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo Vàng Thị Đ đang có hành vi cầm ở tay phải 01 gói Heroine có khối lượng 1,71 gam được gói ngoài bằng 4 lớp nilon màu hồng vặn xoắn lại và cất giấu trong 01 chiếc khẩu trang đã được rạch ra thì bị bắt quả tang. Nguồn gốc số Heroine trên là do bị cáo mua của một người thanh niên khoảng 20 tuổi không quen biết ở bản N xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu với giá 500.000 đồng mục đích mua về để sử dụng dần cho bản thân.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của nhà nước ta. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là Heroine được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Heroine…. Có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết tác hại của ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vậy Hội đồng xét xử kết luận bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tích cực giúp đỡ cơ quan điều tra theo công văn số 04/ĐN ngày 25/10/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ đề nghị xem xét trách nhiệm đối với bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, bố đẻ bị cáo là ông Vàng Văn S có huân chương kháng chiến hạng ba do có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam với mức án như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo còn khó khăn, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo của xã nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 1,54 gam Heroine còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ phong bì dùng để niêm phong; Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động loại bàn phím, màu vàng, den nhãn hiệu ITEL. Trong máy có 02 khe sim. Sim 01 có số thuể bao 0354782033, sim 02 có số thuê bao là 0854811884 cả hai sim đều đang hoạt động bình thường.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Vàng Thị Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Xử phạt bị cáo Vàng Thị Đ 13 (mười ba) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28 tháng 7 năm 2019 đến ngày 06 tháng 8 năm 2019. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

3/ Tịch thu tiêu huỷ 1,54 gam Heroine còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ phong bì dùng để niêm phong; Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động loại bàn phím, màu vàng, đen nhãn hiệu ITEL. Trong máy có 02 khe sim. Sim 01 có số thuể bao 0354782033, sim 02 có số thuê bao là 0854811884 cả hai sim đều đang hoạt động bình thường.

4/ Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:47/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phong Thổ - Lai Châu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về