Bản án 47/2019/HS-ST ngày 25/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 47/2019/HS-ST NGÀY 25/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2019 đối với:

1- Bị cáo Đàm Đình N; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 01 tháng 10 năm 1994 tại Hà Quảng, Cao Bằng;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm K, xã P, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 06/12;

Chức vụ Đoàn thể; Đảng phái: Không có;

Con ông Đàm Văn K, sinh năm 1969; Con bà Hoàng Thị T, sinh năm 1975;

Vợ: Nông Thị L, sinh năm 1995; Con: có 01 con sinh năm 2012;

Anh, chị, em ruột: Bị cáo có hai anh em, bị cáo là con cả trong gia đình;

Tiền sự: Không có; Tiền án: 02 tiền án: Cụ thể: “Ngày 14/7/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tuyên phạt 10 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản. Ngày 14/01/2016 chấp hành xong án phạt tù; Ngày 14/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tuyên phạt 22 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 15/12/2018 chấp hành xong án phạt tù”;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng từ ngày 21/9/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2- Người bị hại: Anh Ngô Thanh V, sinh năm 1988. Địa chỉ: xóm N, xã N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa:

3- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1975. Địa chỉ: xóm K, xã P, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

4- Người làm chứng: Anh Đàm Hải S, sinh năm 1993. Địa chỉ: xóm N, xã P, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 21 giờ ngày 20/9/2019 tại xóm N, xã N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, đối tượng Đàm Đình N, sinh năm 1994, trú tại xóm K, xã P, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng cùng với đối tượng Đàm Hải S, sinh năm 1993 là người cùng xã của N đang có hành vi trộm cắp tài sản là một con chó thuộc quyền sở hữu của anh Ngô Thanh V, sinh năm 1988 thì bị quần chúng nhân dân, Tổ công tác Công an huyện Hòa An và Ban Công an xã N phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave anpha màu xanh, BKS 11H1-212.58. Đến ngày 21/9/2019, cơ quan CSĐT Công an huyện Hòa An tiến hành truy tìm vật chứng vụ án tại khu vực xóm N, xã N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, kết quả tìm kiếm phát hiện 01 (một) dây bằng kim loại dài 2,4 mét, trong đó có 01 mét dây kim loại dạng dây côn và 1,4 mét là dây kim loại kèm thanh gỗ được bọc băng dính đen bên ngoài và 01 (một) con chó màu nâu đen nặng 15 kilogam.

Ngày 24/9/2019, cơ quan CSĐT Công an huyện Hòa An đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với một con chó màu nâu đen, có trọng lượng 15kg mà các đối tượng Đàm Đình N và Đàm Hải S đã trộm cắp. Tại Bản kết luận số 19/KL-ĐGTS, ngày 25/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hòa An kết luận: 01 con chó đực, màu nâu đen, nặng 15kg trị giá: 1.050.000đ (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Kết quả tra cứu tiền án tiền sự xác định được: Đối tượng Đàm Đình N có 02 tiền án, ngày 14/7/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tuyên phạt 10 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản. Ngày 14/01/2016 chấp hành xong án phạt tù. Ngày 14/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Từ S, tỉnh Bắc Ninh tuyên phạt 22 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 15/12/2018 chấp hành xong án phạt tù. Đối tượng Đàm Hải S chưa có tiền án, tiền sự.

Với những tình tiết như trên, tại bản cáo trạng số: 47/CT-VKSHA ngày 07 tháng 11 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng để xét xử đối với bị cáo Đàm Đình N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Đàm Đình N khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo khai do bản thân bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy, không có thu nhập nên khi được S rủ đi trộm cắp tài sản thì bị cáo đã đồng ý và lấy xe máy của gia đình chở S đi thực hiện việc trộm cắp tài sản với mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đối với công cụ, phương tiện để bị cáo và S dùng để trộm gồm một chiếc thòng lọng và hai chiếc bao tải là do S chuẩn bị từ trước và gọi bị cáo đi điều khiển phương tiện để chở S đi trộm.

Người có quyền lợi và N vụ liên quan bà Hoàng Thị T trình bày: Giữa bà và bị cáo có mỗi quan hệ là mẹ con, chiếc xe máy mà bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp ngày 20/9/2019 là do bà mua vào tháng 5/2019 và đứng tên trong giấy đăng ký mô tô, xe máy. Chiếc xe máy này là phương tiện phục vụ sinh hoạt chung của cả gia đình, sự việc con trai của bà tự ý sử dụng chiếc xe máy này để thực hiện hành vi trộm cắp thì bà không biết, nếu biết thì bà đã không cho. Hiện nay chiếc xe máy đang bị cơ quan Công an tạm giữ, tại phiên tòa bà yêu cầu được trả lại chiếc xe máy để mang về sử dụng phục vụ cho sinh hoạt gia đình.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đàm Đình N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đàm Đình N từ 12 đến 16 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) dây bằng kim loại dài 2,4 mét, trong đó có 01 mét là dây kim loại dạng dây côn và 1,4 mét là dây kim loại kèm thanh gỗ được bọc băng dính đen bên ngoài, trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị T 01 (một) chiếc xe máy và chiếc điện thoại vì không liên quan đến vụ án và bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đàm Đình N không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin được hưởng khoan hồng của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị hại Ngô Thanh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố đã cung cấp lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với người làm chứng Đàm Hải S vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra nên căn cứ khoản 1 Điều 293 Hội đồng xét xử tiếp tục phiên tòa xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.

[3] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đàm Đình N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, N vụ liên quan, bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Qua sự rủ rê, lôi kéo từ trước nên vào hồi 21 giờ ngày 20/9/2019, đối tượng Đàm Đình N, sinh năm 1994, trú tại xóm K, xã P, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng cùng với đối tượng Đàm Hải S, sinh năm 1993 là người cùng xã của N có hành vi trộm cắp tài sản là một con chó thuộc quyền sở hữu của anh Ngô Thanh V, sinh năm 1988, trú tại xóm N, xã N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Con chó này qua định giá có giá trị là 1.050.000 đồng (một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Tuy giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng xét thấy, bị cáo đang có tiền án về tội trộm cắp tài sản, ngày 14/7/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tuyên phạt 10 tháng tù giam đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện cải tạo bản thân mà còn tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Đàm Đình N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Cáo trạng số 47/CT-VKSHA ngày 07/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An truy tố bị cáo Đàm Đình N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật nhà nước bảo vệ. Hành vi đó đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người thanh niên khỏe mạnh, đủ sức lao động để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân nhưng bản tính lười lao động, không chịu khó làm ăn, không tu dưỡng đạo đức, thích hưởng thụ tài sản trên công sức lao động của người khác, bị cáo đã cố ý chiếm đoạt tài sản của bị hại. Điều đó chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tiền án, ngày 14/7/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tuyên phạt 10 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, ngày 14/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Từ S, tỉnh Bắc Ninh tuyên phạt 22 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy đều chưa được xóa án tích. Trong trường hợp này tiền án về tội “trộm cắp tài sản” được xem xét là dấu hiệu “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” để xác định cấu thành tội phạm của trộm cắp tài sản. Nên đối với tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét trong lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi Hội đồng xét xử lượng hình. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận có ông nội là người có công với nước được tặng thưởng Huân, Huy chương nhưng bị cáo và gia đình không cung cấp được những giấy tờ chứng minh nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì HĐXX thấy rằng: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và có nhân thân xấu, vì vậy Hội đồng xét xử bắt buộc cách ly bị cáo với xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội. Mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp, cần chấp nhận Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo Đàm Đình N còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình giải quyết vụ án Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu tài sản bị trộm vụ án là 01 (một) con chó màu nâu đen nặng 15 kilogam, xét thấy việc trả lại này không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án và đúng pháp luật.

Đi với 01 (một) dây bằng kim loại dài 2,4 mét, trong đó có 01 mét là dây kim loại dạng dây côn và 1,4 mét là dây kim loại kèm thanh gỗ được bọc băng dính đen bên ngoài là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave anpha màu xanh, BKS 11H1-212.58, giấy tờ đăng ký mang tên Hoàng Thị T, sinh năm 1975, trú tại xóm K, xã P, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, Hội đồng xét xử thấy rằng trong vụ án việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì bà Hoàng Thị T không biết nên việc Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp cần chấp nhận.

[8] Án phí: Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi N vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136, 329, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

1. Bị cáo Đàm Đình N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Đàm Đình N 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 21/9/2019.

3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dây bằng kim loại dài 2,4 mét, trong đó có 01 mét dây kim loại dạng dây côn và 1,4 mét là dây kim loại kèm thanh gỗ được bọc băng dính đen bên ngoài.

Trả lại cho bà Hoàng Thị T, sinh năm 1975, trú tại xóm K, xã P, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave anpha màu xanh, BKS 11H1-212.58; số khung RLHJA390XHY788711; Số máy JA39E-0768869, xe đã qua sử dụng.

(Đc điểm, tình trạng số vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục THADS huyện Hòa An, Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 08, ngày 08/11/2019)

4. Về án phí: Bị cáo Đàm Đình N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, N vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HS-ST ngày 25/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:47/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hoà An - Cao Bằng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về