Bản án 47/2019/HS-ST ngày 23/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 47/2019/HS-ST NGÀY 23/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2019/TLST-HS ngày 19/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HS ngày 10/5/2019 đối với bị cáo:

Quàng Văn Ơ, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1961 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn N và bà Quàng Thị L; bị cáo có vợ là Quàng Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2019 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Quàng Thị T, sinh năm 1971; trú tại: Bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 50 phút ngày 03/01/2019, tại khu vực tổ 6, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, Công an phường C phát hiện, bắt quả tang Quàng Văn Ơ đang cất giữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất cục bột màu trắng và 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 02 viên nén màu hồng hình tròn đồng dạng (Ơ tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra giao nộp). Ơ khai nhận: Đó là Heroine và hồng phiến của Ơ cất giấu để sử dụng. Khoảng 11 giờ cùng ngày 03/01/2019, Ơ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Angel màu xanh biển kiểm soát … từ nhà ở bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La đến khu vực xã C, huyện T, tỉnh Sơn La mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Ơ đã mua của một người đàn ông (không biết họ tên, địa chỉ) 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất cục bột màu trắng và 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 02 viên nén màu hồng hình tròn đồng dạng với số tiền 400.000 đồng. Ơ cất giấu ma túy vào túi quần bên trái đang mặc, điều khiển xe mô tô đi về khu vực tổ 6, phường C, thành phố S tìm nơi sử dụng thì bị Công an phường C bắt quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng.

Tạm giữ của Quàng Văn Ơ:

- 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng số seri ………….

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đỏ đen, đã qua sử dụng cùng sim thuê bao số …..

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel màu xanh biển kiểm soát …..

- 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số …………. mang tên Quàng Văn L.

- 01 chứng minh nhân dân số ………. mang tên Quàng Văn Ơ.

Ngày 03/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng. Kết quả: 02 viên nén màu hồng, hình tròn đồng dạng được chứa trong gói nilon màu trắng có khối lượng 0,20 gam. Lấy toàn bộ 0,20 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu Ơ1. Chất cục bột màu trắng chứa trong gói nilon màu xanh có khối lượng 0,39 gam. Lấy 0,07 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu Ơ2; còn lại 0,32 gam lưu kho vật chứng, ký hiệu Ơ3.

Kết luận giám định số 180 ngày 05/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu Ơ1 là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu Ơ2 là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,07 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,39 gam; loại Heroine và 0,20 gam; loại Methamphetamine.

Kết luận giám định số 113 ngày 16/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng có số mã hiệu …. là tiền thật.

Đối với người bán ma túy cho Quàng Văn Ơ: Do Ơ không biết họ tên, địa chỉ, ngoài lời khai của Ơn không có tài liệu, chứng cứ nào khác để điều tra, xử lý.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel màu xanh biển kiểm soát …….. tạm giữ khi bắt quả tang, được xác định là tài sản do chị Quàng Thị T (vợ bị cáo) mua năm 2014 của anh Quàng Văn L (sinh năm 1959; trú tại bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La) với giá 4.000.000 đồng. Chị T không biết và không liên quan đến việc Quàng Văn Ơ sử dụng xe đi mua ma túy Bản cáo trạng số 31/CT-VKSTP ngày 19/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Quàng Văn Ơ về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố: Quàng Văn Ơ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 35; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Quàng Văn Ơ từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo 1.000.000 đồng.

2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Quàng Văn Ơ - sinh năm 1961. Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 03/01/2019. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh; mẫu lưu kho Ơ3=0,32 gam”.

Trả cho Quàng Văn Ơ:

- 01 chứng minh nhân dân mang tên Quàng Văn Ơ.

- 01 phong bì công văn của Công an phường C - Công an thành phố S đã niêm phong. Mặt trước ghi: “Chiếc điện thoại di động là vật chứng quả tang vụ Quàng Văn Ơ tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 03/01/2019 tại tổ 6 phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La”.

- 01 phong bì Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã niêm phong. Mặt trước ghi: “Kèm theo KL số 113. Số tiền 1.000.000 đồng trong vụ Quàng Văn Ơ tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có 02 chữ ký + 02 dòng ghi họ tên của thành phần tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.

Trả cho chị Quàng Thị T:

- 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số ......... mang tên Quàng Văn L.

- 01 chiếc xe mô tô màu xanh, nhãn hiệu Angel, biển kiểm soát .........

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, nhất trí với cáo trạng truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt. Chị Quàng Thị T đề nghị được trả lại chiếc xe máy và giấy đăng ký xe.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về quá trình tiến hành tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến. Do vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 03/01/2019, Quàng Văn Ơ đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,39 gam Heroine và 0,20 gam Methamphetamine để sử dụng. Tổng khối lượng hai chất ma túy tương đương 0,59 gam chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, hành vi của bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:”Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất ma túy đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích của các chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Về nhân thân, theo tra cứu trích lục tiền án, tiền sự và lời khai nhận của bị cáo, năm 1982, 1986, Quàng Văn Ơ đã bị kết án về tội phạm sở hữu, đã xóa án tích. Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi phạm tội của mình nhưng vẫn thực hiện. Cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo có thể bị phạt tiền, bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo, ngoài số tiền 1.000.000 đồng đã bị thu giữ, bị cáo không có tài sản, không có thu nhập, cần căn cứ Điều 35 Bộ luật Hình sự, quyết định mức phạt tiền phù hợp.

[4] Về vật chứng của vụ án, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 vỏ gói niêm phong ban đầu, 02 mảnh nilon, mẫu vật chứng lưu kho Ơ3 = 0,32 gam, xét là chất ma túy và đồ vật liên quan, vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Quàng Văn Ơ, 01 điện thoại di động và số tiền 1.000.000 đồng tạm giữ của Quàng Văn Ơ là giấy tờ tùy thân và tài sản của bị cáo, không sử dụng vào việc phạm tội, xét cần trả cho Quàng Văn Ơ.

Đối với 01 chiếc xe mô tô màu xanh, nhãn hiệu Angel, biển kiểm soát ... và 01 giấy đăng ký xe mô tô xe máy mang tên Quàng Văn L là tài sản của chị Quàng Thị T. Chị T không biết và không liên quan đến việc Quàng Văn Ơ sử dụng xe đi mua ma túy, cần trả chiếc xe máy cho chị Quàng Thị T.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 35; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn Ơ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt Quàng Văn Ơ 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 03/01/2019).

Phạt bổ sung đối với Quàng Văn Ơ 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

2. Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc phong bì công văn Công an thành phố S đã niêm phong. Mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Quàng Văn Ơ - SN 1961. Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 03/01/2019. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng; mẫu lưu kho Ơ3=0,32 gam”. Mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có 06 chữ ký + 06 dòng ghi họ tên của thành phần tham gia niêm phong, đối tượng bị bắt và 01 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Sơn La.

Trả cho Quàng Văn Ơ:

- 01 (Một) chứng minh nhân dân số 050144869 mang tên Quàng Văn Ơ do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 22/4/2014.

- 01 (Một) chiếc phong bì công văn của Công an phường Chiềng Lề - Công an thành phố S đã niêm phong. Mặt trước ghi: “Chiếc điện thoại di động là vật chứng quả tang vụ Quàng Văn Ơ tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 03/01/2019 tại tổ 6 phường Chiềng Lề, thành phố S, tỉnh Sơn La”. Mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có 07 chữ ký + 07 dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, đối tượng bị bắt và 01 dấu tròn đỏ của Công an phường C, thành phố S, kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn.

- 01 (Một) phong bì Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã niêm phong. Mặt trước ghi: “Kèm theo KL số 113. Số tiền 1.000.000 đồng trong vụ Quàng Văn Ơ tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có 02 chữ ký + 02 dòng ghi họ tên của các thành phần tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn.

Trả cho chị Quàng Thị T:

- 01 (Một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số .... mang tên Quàng Văn L.

- 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu Angel màu xanh, biển kiểm soát ....

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/5/2019 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Quàng Văn Ơ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HS-ST ngày 23/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:47/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Sơn La - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về