Bản án 47/2019/HS-ST ngày 15/08/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 47/2019/HS-ST NGÀY 15/08/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 15 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Văn H, sinh ngày 03 tháng 9 năm 1994 tại Bắc Giang. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T, sinh năm 1967 và bà An Thị H, sinh năm 1974; vợ: Liễu Thị M, sinh năm 1995; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa từng bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/6/2019 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1970 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Hoàng Văn T:

1. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1993 (là con đẻ của bị hại). Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Bà Phí Thị Mai A, sinh năm 1968 (là vợ bị hại). Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đồng Văn T, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Phạm Thanh Q. Có mặt.

2. Anh Hoàng Đại P. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Bùi Văn H có Giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 02/8/2017, có giá trị đến ngày 22/8/2022. Từ tháng 01 năm 2018, H nhận lái xe thuê cho anh Đồng Văn T, sinh năm 1993; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng, không lập hợp đồng. Tối ngày 06/5/2019, Bùi Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-115.32 đến mỏ đá Võ Nói, Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn để chở đá. Theo bị cáo H khai nhận, khoảng 01 giờ ngày 07/5/2019, bị cáo điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-115.32, trên xe có anh Phạm Thanh Q, sinh năm 2001 trú tại Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang chở đá đi từ hướng thôn Đ ra Quốc lộ 1A, đến đoạn Km 0 + 100 đường liên thôn thuộc địa phận Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn phát hiện phía trước cách khoảng 20m có xe mô tô biển kiểm soát 12H1-8565 do ông Hoàng Văn T, sinh năm 1970; trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn điều khiển đi ngược chiều. Bị cáo H quan sát thấy xe mô tô đi loạng choạng, lấn sang phần đường của xe ô tô do bị cáo điều khiển nên đã đánh lái, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-115.32 đi sang phần đường bên trái theo chiều đi của bị cáo để tránh thì thấy xe do ông Hoàng Văn T điều khiển đi sang phần đường bên phải theo chiều đi của ông T. Lúc này 02 xe cách nhau khoảng 05m đến 07m, do khoảng cách gần nên xe ô tô do bị cáo Bùi Văn H điều khiển đã đâm vào xe của ông Hoàng Văn T. Hậu quả, ông Hoàng Văn T bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, đến 21 giờ ngày 07/5/2019 thì ông T tử vong, 02 xe bị hư hỏng.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 3699/19/GĐPY ngày 29/5/2019 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Ông Hoàng Văn T chết do đa chấn thương do tai nạn giao thông.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ghi nhận: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường cong về phía bên phải theo hướng từ Quốc lộ 1A đi thôn Đ, xã Đ, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường trải bê tông xi măng phẳng rộng 6,05m. Hiện trường được mô tả theo hướng từ Quốc lộ 1A đi thôn Đ, xã Đ, lấy mép đường bên phải làm chuẩn, cột Km 0 + 100 đường liên thôn Đồng Lai làm mốc, các dấu vết do tai nạn để laị được thể hiện như sau:

- Đo thẳng chéo từ cột Km 0 + 100 về hướng Quốc lộ 1A 10,55m là điểm đầu vết cầy trượt + mài trượt màu đen (vết 1) kéo dài liên tục trên mặt đường về hướng thôn Đ, có kích thước 2,25m x 0,13m, đầu vết cách mép đường bên phải 1,68m, cuối vết kết thúc tại đầu tay lái bên phải xe mô tô biển kiểm soát 12H1- 8565.

- Từ điểm đầu vết (1) đo thẳng chéo về hướng thôn Đ 0,82m là điểm đầu vết cầy trượt (vết 2) kéo dài liên tục trên mặt đường về hướng thôn Đồng Lai, có kích thước 1,70m x 0,06m, đầu vết cách mép đường bên phải 2,03m, cuối vết kết thúc tại giá để chân phía sau bên phải xe mô tô biển kiểm soát 12H1-8565 và cách mép đường bên phải 2,39m. Xe mô tô biển kiểm soát 12H1-8565 đổ nghiêng về bên phải trên mặt đường, đầu xe quay hướng thôn Đ, đuôi xe quay hướng Quốc lộ 1A, trục bánh trước cách mép đường bên phải 2,15m, trục bánh sau cách mép đường bên phải 2,5m.

- Đo từ trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 12H1-8565 thẳng về hướng thôn Đ 0,8m là trục bánh trước bên trái của xe ô tô tải biển kiểm soát 98C-115.32 đỗ trên mặt đường, đầu xe quay đầu hướng Quốc lộ 1A, đuôi xe quay hướng thôn Đ, trục bánh trước bên trái cách mép đường bên phải 02m, trục bánh sau bên trái cách 2,55m.

- Đo thẳng chéo từ điểm đầu vết (2) về hướng thôn Đ là 1,45m là vũng máu trên mặt đường (vết 3) có kích thước 1,05m x 0,5m, tâm vết (3) cách mép đường bên phải 1,88m.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện lập ngày 07/5/2019 ghi nhận: Xe ô tô biển kiểm soát 98C-115.32 các dấu vết hỏng hóc do tai nạn giao thông tập trung tại phía trước và phía dưới bên trái đầu xe; xe mô tô biển kiểm soát 12H1- 8565 các dấu vết hỏng hóc nằm hầu hết trên các bộ phận của xe.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn do Công an Huyện Hữu Lũng lập ngày 07/5/2019 đối với bị cáo Bùi Văn H kết quả 0mg/lít khí thở, đối với ông Hoàng Văn T là 1,505mg/lít khí thở.

Tại phiếu xét nghiệm ma túy lập ngày 07/5/2019 đối với Bùi Văn H có kết quả âm tính.

Tại bản kết luận giám định kỹ thuật số 49 ngày 03/6/2019 của Công ty Cổ phần đăng kiểm xe cơ giới tỉnh Lạng Sơn kết luận: Xe ô tô biển kiểm soát 98C- 115.32 khi xảy ra tai nạn các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật. Xe mô tô biển kiểm soát 12H1-8565 khi xảy ra tai nạn hệ thống lái và hệ thống phanh đầy đủ cơ cấu, hoạt động bình thường, đảm bảo an toàn kỹ thuật; hệ thống đèn chiếu sáng phía trước, các đèn tín hiệu, còi bị phá hủy nên không đủ cơ sở để kết luận.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 03/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hữu Lũng kết luận: Các chi tiết, phụ tùng bị hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 98C-115.32 có giá trị 1.100.000đ; các chi tiết hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 12H1-8565 có giá trị 4.250.000đ.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C-115.32 nhãn hiệu HOWO, màu xanh; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 6229038;

01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 180255093; 01 bản phô tô giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 016905; 01 giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp là của anh Đồng Văn T giao cho bị cáo Bùi Văn H ngày 06/5/2019; 01 xe mô tô biển kiểm soát 12H1-8565 nhãn hiệu Yamaha, màu sơn trắng – đen là của anh Hoàng Văn T con trai ông Hoàng Văn T; 01 giấy phép lái xe hạng C số 010158028740 là của bị cáo Bùi Văn H. Sau khi làm rõ cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Hữu Lũng đã trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C-115.32 cùng toàn bộ giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu là anh Đồng Văn T, trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12H1-8565 cho anh Hoàng Văn T. Hiện còn tạm giữ 01 giấy phép lái xe của bị cáo Bùi Văn H.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Bùi Văn H đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình nạn nhân ông Hoàng Văn T số tiền 80.000.000đ. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì khác về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Anh Đồng Văn T không có yêu cầu gì đối với hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 98C-115.32.

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSHL-HS ngày 23 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Hoàng Văn T, bà Phí Thị Mai A trình bày: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình với số tiền là 80.000.000 đồng, gia đình không có yêu cầu gì thêm về phần bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đồng Văn T tại phiên tòa trình bày: Xe ô tô biển kiểm soát 98C-115.32 và các giấy tờ kèm theo anh đã được cơ quan điều tra trả lại nên anh không có yêu cầu gì về xe. Đối với thiệt hại 1.100.000đ do xe bị hư hỏng anh đã tự sửa chữa, không yêu cầu bị cáo Bùi Văn H bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Diều 50; khoản 1, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo và gia đình bị hại ông Hoàng Văn T đã thỏa thuận bồi thường xong với tổng số tiền là 80.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Bùi Văn H 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số 010158028740 mang tên Bùi Văn H do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp ngày 02/8/2017.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã ăn năn hối cải xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, người làm chứng anh Hoàng Đại P vắng mặt, tuy nhiên, lời khai của người vắng mặt tại cơ quan điều tra đã rõ, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử do đó căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 07/5/2019, Bùi Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-115.32 chở đá đi theo hướng từ thôn Đ, xã Đ ra Quốc lộ 1A, đến đoạn Km 0 + 100 đường liên thôn thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện H, do đi không đúng phần đường đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 12H1-8565 do ông Hoàng Văn T điều khiển đi ngược chiều. Bị cáo khi tham gia giao thông đường bộ đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, được quy định tại khoản 5 Điều 4 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ, dẫn đến hậu quả ông Hoàng Văn T tử vong. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung tội phạm.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại với tổng số tiền 80.000.000 (Tám mươi triệu) đồng, đại diện bị hại xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thu nhập chính từ nghề lái xe để nuôi sống gia đình nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

2. Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Bùi Văn H 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số 010158028740 mang tên Bùi Văn H do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp ngày 02/8/2017.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25 tháng 7 năm 2019)

4. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HS-ST ngày 15/08/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

Số hiệu:47/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về