Bản án 47/2019/HS-ST ngày 13/06/2019 về tội chứa mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 47/2019/HS-ST NGÀY 13/06/2019 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 13 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2019/HSST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Thị H - Sinh năm: 1966, tại Thanh Hóa, Nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, Chỗ ở: Kp10, phường P, Tp. Phan Thiết, Dân tộc: Mường, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: không, Nghề nghiệp: Làm thuê, Trình độ học vấn: 7/12; Cha: B (chết); Mẹ: P, sinh năm 1936 (già yếu); Chồng: Q, sinh năm 1966. Nghề nghiệp: Làm nông. Trú tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Con: Có 03 người con, con lớn sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền sự, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt vào ngày 09/9/2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - C an Tp. Phan Thiết. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Kim U; sinh năm 1973 (có đơn xét xử vắng mặt) địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Chị Hoàng Thị N; sinh năm 1999 (vắng mặt) Địa chỉ: Xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu.

Người làm chứng:

1. Tưởng Thị P; sinh năm 1971 Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tình Bình Thuận.

2. Nguyễn Thành C; sinh năm 1972 Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

3. Dương Thị L; sinh năm 1995 Địa chỉ: Xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

4. Nguyễn Văn T; sinh năm 1990 Địa chỉ: Khu phố A, phường B, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhà nghỉ H, có địa chỉ tại đường H, thuộc khu phố A, phường P, TP. Phan Thiết do bà Nguyễn Thị Kim U, đứng tên chủ cơ sở, hoạt động theo Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh Hộ gia đình số X do Phòng Tài chính – Kế hoạch TP. Phan Thiết cấp ngày 14/01/2014. Để nhà nghỉ hoạt động, U thuê Bùi Thị H và Tưởng Thị P cùng có nhiệm vụ phụ trách lễ tân, dọn dẹp và quản lý hoạt động của nhà nghỉ. U không trực tiếp có mặt tại nhà nghỉ mà điều hành, giám sát qua hệ thống Camera. Mọi hoạt động tại nhà nghỉ U giao cho H và P đảm nhiệm.

Trong quá trình làm việc tại nhà nghỉ, H thấy có một số gái bán dâm hẹn khách mua dâm đến nhà nghỉ để bán dâm nên có ý định gọi gái bán dâm đến bán dâm khi khách lưu trú có yêu cầu nhằm có thêm thu nhập. Vì vậy, sau khi một số gái bán dâm đã cho số điện thoại để gọi khi có khách nên H lén lút thực hiện việc gọi gái bán dâm cho khách từ đầu tháng 8/2018. Để thực hiện việc chứa mại dâm, H dùng một số điện thoại 01647156891 để gọi điện cho gái bán dâm, giá mua bán dâm tại nhà nghỉ là 500.000 đồng/lượt, sau khi mua bán dâm xong thì khách mua dâm trả tiền cho gái bán dâm và trong số tiền đó gái bán dâm đưa cho H 100.000 đồng gọi là tiền C gọi đào, tiền phòng thì do khách tự trả riêng theo số giờ mà khách lưu trú. Trung bình mỗi ngày có khoảng 2-3 lượt khách mua dâm tại nhà nghỉ từ 12 giờ trưa đến 24 giờ cùng ngày.

Vào khoảng 19 giờ 40 phút ngày 08/09/2018, trong khi H đang ở quầy lễ tân của nhà nghỉ còn P đang ăn cơm, xem Tivi ở trên giường phía sau thì có Nguyễn Thành C đến nói lấy phòng và yêu cầu gọi gái bán dâm đến để C mua dâm, nghe vậy H dùng điện thoại có số thuê bao 01647156891 gọi điện cho gái bán dâm lưu tên trong danh bạ là “L”, tên thật là Dương Thị L đến, khoảng 5 phút sau thì L đến lấy chìa khóa phòng 102 từ tay H và dẫn C lên phòng 102 để thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T đến thuê phòng và yêu cầu gọi gái bán dâm nên H đã đưa chìa khóa phòng 103 cho T lên phòng trước rồi dùng điện thoại gọi cho gái bán dâm lưu tên trong danh bạ điện thoại là “Hồng”, tên thật là Hoàng Thị N, đến nhà nghỉ, khoảng ít phút sau N đến và lên thẳng phòng 103 để bán dâm cho T. Đến 20 giờ 10 phút cùng ngày Tổ C tác do Phòng Cảnh sát hình sự - C an tỉnh Bình Thuận phối hợp cùng C an phường P tiến hành kiểm tra bắt quả tang tại phòng 102 có Dương Thị L đang bán dâm cho Nguyễn Thành C và tại phòng 103 có Hoàng Thị N đang bán dâm cho Nguyễn Văn T nên đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Thị H về hành vi “Chứa mại dâm” lúc 20 giờ 30 phút ngày 08/9/2018.

Tang vật thu giữ trong vụ án:

- Thu giữ của Bùi Thị H: 01 điện thoại di động NOKIA màu xanh, số IMEI: 353677072556804 số thuê bao 01647156891.

- Thu giữ tại phòng 102 nơi Dương Thị L bán dâm cho Nguyễn Thành C: 01 bao cao su đã sử dụng và 01 vỏ bao cao su hiệu SURE (đã được niêm phong); Thu giữ của Dương Thị L một điện thoại di động hiệu OPPO màu xám số thuê bao 0966386390, số IMEI 1: 863886032021972; số IMEI 2: 863886032021964.

- Thu giữ tại phòng 103 nơi Hoàng Thị N bán dâm cho Nguyễn Văn T: 01 bao cao su đã sử dụng và 01 vỏ bao cao su hiệu SIMPLEX (đã được niêm phong); 02 bao cao su hiệu SIMPLEX chưa sử dụng, 01 tuýp gel bôi trơn KY. Thu giữ của Hoàng Thị N: 01 điện thoại di động KECHAODA màu hồng số thuê bao 01638376188, số IMEI 1: 863150040687617; số IMEI 2: 863150040687625.

Trong quá trình điều tra tiếp tục tạm giữ tại nhà nghỉ Hoàng Hưng các vật chứng gồm:

- 01 đầu thu Camera hiệu H.246 NetWork/Digital Video Recorder, Model: GT-BG7016.

- 01 quyển sổ loại vở học, kích thước: 15cm x 20,5cm, trong đó có 18 trang có chữ.

Xử lý vật chứng:

- Đối với tang vật là 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xám, Cơ quan điều tra đã kiểm tra nội dung chi tiết tin nhắn, cuộc gọi trong máy có liên quan đến vụ án. Xét thấy đây là tài sản của Dương Thị L nên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 65 ngày 27/3/2019 của Cơ quan CSĐT – C an TP. Phan Thiết về việc trả lại tài sản trên cho L.

- Đối với tang vật là 01 đầu thu Camera hiệu H.246 NetWork/Digital Video Recorder, Model: GT-BG7016 được thu giữ tại nhà nghỉ Hoàng Hưng là tài sản của Nguyễn Thị Kim U. Quá trình điều tra đã kiểm tra nội dung lưu trong đầu thu nhưng không có phát hiện thông tin có liên quan đến vụ án nên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho Nguyễn Thị Kim U.

Các vật chứng còn lại của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra – C an Tp. Phan Thiết chuyển Chi cục thi hành án dân sự Tp. Phan Thiết chờ xử lý.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Thị H đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận truy tố tại bản cáo trạng số số 44/QĐ/CT-VKSPT ngày 15/5/2019 về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận T bộ hành vi theo đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố và thừa nhận do được bà Nguyễn Thị Kim U tin tưởng giao cho bị cáo trực tiếp quản lý khách sạn Hoàng Hưng nên vào khoảng 20 giờ 10 phút, ngày 08/9/2018, Bùi Thị Hải đã thực hiện hành vi chứa mại dâm cho 02 cặp nam nữ mua bán dâm gồm Nguyễn Thành C mua bán dâm với Dương Thị L tại phòng 102 và Nguyễn Văn Toàn mua bán dâm với Hoàng Thị N tại phòng 103 bị bắt quả tang.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền C tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đủ cơ sớ kết luận, hành vi của bị cáo Bùi Thị H đã phạm vào tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị H từ 05 năm tù đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã sử dụng và 01 vỏ bao cao su hiệu SURE (đã được niêm phong) thu giữ tại phòng 102. Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã sử dụng, 01 vỏ bao cao su hiệu SIMPLEX (đã được niêm phong); 02 bao cao su hiệu SIMPLEX chưa sử dụng, 01 tuýp gel bôi trơn KY, thu giữ tại phòng 103 và 01 quyển sổ loại vở học, kích thước: 15cm x 20,5cm, trong đó có 18 trang có chữ do không còn giá trị sử dụng.

Tch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động NOKIA màu xanh, số IMEI: 353677072556804 số thuê bao 01647156891 thu giữ của H là C cụ phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Trả lại cho Hoàng Thị N 01 điện thoại di động KECHAODA màu hồng số thuê bao 01638376188, số IMEI 1: 863150040687617; số IMEI 2: 863150040687625 do không liên quan vụ án.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát nhưng thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C an thành phố Phan Thiết, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – C an thành phố Phan Thiết, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên a hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 08/9/2018, lợi dụng việc được chủ sở hữu giao cho quản lý khách sạn H, thuộc khu phố A, phường P, thành phố Phan Thiết, Bùi Thị H đã thực hiện hành vi chứa mại dâm cho 02 cặp nam nữ mua bán dâm gồm Nguyễn Thành C mua bán dâm với Dương Thị L tại phòng 102 và Nguyễn Văn Toàn mua bán dâm với Hoàng Thị N tại phòng 103 thì bị bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo Bùi Thị H đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 254 Bộ luật hình sự . Do đó Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo biết rõ hành vi chứa mại dâm là vi phạm pháp luật, nên đã được Đng và Nhà nước ban hành nhiều văn bản, mở các cuộc vận động, tU truyền T dân tham gia tích cực đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn xã hội thế nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự C cộng mà còn ảnh hưởng đến nếp sống lành mạnh, văn minh xã hội, trực tiếp xâm hại đến truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Vì vậy cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa tôi phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định ti điểm s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về việc xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su hiệu SURE (đã được niêm phong) thu giữ tại phòng 102. Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su hiệu SIMPLEX (đã được niêm phong); 02 bao cao su hiệu SIMPLEX chưa sử dụng, 01 tuýp gel bôi trơn KY, thu giữ tại phòng 103 và 01 quyển sổ loại vở học, kích thước: 15cm x 20,5cm, trong đó có 18 trang có chữ do không còn giá trị sử dụng.

Tch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động NOKIA màu xanh, số IMEI: 353677072556804 số thuê bao 01647156891 thu giữ của H là C cụ phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Trả lại cho Hoàng Thị N 01 điện thoại di động KECHAODA màu hồng số thuê bao 01638376188, số IMEI 1: 863150040687617; số IMEI 2: 863150040687625 do không liên quan vụ án.

[6] Về xử lý hành chính và những người liên quan: Chủ nhà nghỉ Hoàng Hưng là bà Nguyễn Thị Kim U cùng các đối tượng mua bán dâm đã bị xử lý hành chính là phù hợp.

Bị cáo Bùi Thị H thực hiện hành vi “Chứa mại dâm”, bà Nguyễn Thị Kim U, chị Tưởng Thị P không biết nên không xử lý hình sự là đúng pháp luật.

[7] Bị cáo phải nộp tiền án phí và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Áp dụng: điểm c Khoản 2 Điều 327, điểm s khoản 01, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị H phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị H 05 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/9/2018.

2/ Về xử lý vật chứng:

Áp dụng: Điểm a, c Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su hiệu SURE (đã được niêm phong) thu giữ tại phòng 102. Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su hiệu SIMPLEX (đã được niêm phong); 02 bao cao su hiệu SIMPLEX chưa sử dụng, 01 tuýp gel bôi trơn KY, thu giữ tại phòng 103 và 01 quyển sổ loại vở học, kích thước: 15cm x 20,5cm, trong đó có 18 trang có chữ do không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động NOKIA màu xanh, số IMEI: 353677072556804 số thuê bao 01647156891 thu giữ của H là C cụ phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

- Trả lại cho Hoàng Thị N 01 điện thoại di động KECHAODA màu hồng số thuê bao 01638376188, số IMEI 1: 863150040687617; số IMEI 2: 863150040687625 do không liên quan vụ án.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 91 ngày 24/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).

2/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buc bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3/ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (13/6/2019), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HS-ST ngày 13/06/2019 về tội chứa mại dâm

Số hiệu:47/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 13/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về