Bản án 47/2019/HS-ST ngày 03/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 47/2019/HS-ST NGÀY 03/04/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 04  năm  2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 03 năm 2019, đối với bi cáo:

Võ Thị DL, sinh năm 1991, tại Sóc Trăng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã A 1, huyện CLD, tỉnh S; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông Võ Văn C và bà Đặng Ngọc A; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 26-11-2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu. (Có mặt)

Bị hại: Ông JPM, sinh năm: 1977; Quốc tịch: Mỹ, số hộ chiếu: ……..; Trú tại: số … đường T, phường B, thành phố V, tỉnh B. (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Ngọc A, sinh năm 1958; Địa chỉ: Ấp A, xã A 1, huyện CLD, tỉnh S. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Võ Thị DL và ông JPM có quan hệ tình cảm nên khoảng tháng 10/2018 về chung sống với ông JPM tại địa chỉ số … đường T, phường B, thành phố V, tỉnh B. Trong thời gian chung sống, ông JPM giao chìa khóa nhà cho DL để tiện việc sinh hoạt. Khoảng 20 giờ ngày 15/11/2018, trong lúc ông JPM ở phòng khách tầng trệt, DL lên phòng ngủ trên tầng để thay quần áo. Lúc lấy quần áo,DL thấy trong va ly của ông JPM có 01 phong bì màu trắng bên trong có chứa tiền đôla Mỹ (USD) nên đã lén lút lấy trộm phong bì có tiền nói trên và đi khỏi nhà. Khi DL đến đường Hùng Vương, mở phong bì kiểm tra thấy bên trong có 2.000 USD (20 tờ mệnh giá 100USD).DL đến cửa hàng mua bán vàng trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (không nhớ rõ địa chỉ) đổi 100 USD lấy số tiền 2.360.000đ (Hai triệu, ba trăm, sáu mươi ngàn đồng) để tiêu xài. Sáng ngày 16/11/2018DL tiếp tục đến 01 cửa hàng mua bán vàng trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (không nhớ rõ địa chỉ) đổi 200 USD lấy số tiền 4.720.000đ (Bốn triệu, bảy trăm, hai mươi ngàn đồng) để tiêu xài. Ngày 19/11/2018DL tiếp tục đến cửa hàng mua bán vàng ngày 15/11/2018 đổi 300 USD lấy số tiền 7.080.000đ (Bảy triệu, không trăm, tám mươi ngàn đồng). Tổng số USD DL mang đổi là 600 USD để lấy số tiền 14.160.000đ (Mười bốn triệu, một trăm sáu mươi ngàn đồng), số tiền này DL đã tiêu xài cá nhân, gửi cho mẹ ruột là bà Đặng Ngọc A 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), còn lại 2.650.000đ (Hai triệu, sáu trăm năm mươi ngàn đồng); số tiền 1.400 USD còn lại, DL khai đã làm rơi trên đường đi đổi tiền ngày 19/11/2018.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Võ Thị DL đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 17/12/2018 bà Đặng Ngọc A tự nguyện đến cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu giao nộp số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) và xác định không biết tiền bị cáo gửi là tiền do phạm tội mà có.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ông JPM yêu cầu nhận lại 8.650.000đ (Tám triệu, sáu trăm năm mươi ngàn đồng) do cơ quan Công an thu giữ của DL và do bà A nộp; ông  không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền còn lại và có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Bản cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 18-02-2019, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Võ Thị DL, về tội “Trộm cắp tài sản”  quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Võ Thị DL đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Võ Thị DL, về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Hoàn trả lại cho bị hại 8.650.000đ (Tám triệu, sáu trăm năm mươi ngàn đồng) do cơ quan Công an thu giữ của bị cáo và do mẹ bị cáo giao nộp, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị DL đã khai nhận toàn bộ ành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 20 giờ ngày 15/11/2018 tại nhà số số … đường T, phường B, thành phố V, tỉnh B, bị cáo Võ Thị DL đã có hành vi lén lút lấy trộm 2.000 USD (tương đương 46.540.000 đồng) của ông JPM. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi của bị cáo: Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội; bị cáo là người đã trưởng thành nên biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích có tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, biết chấp hành và tuân thủ pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo cho tốt, làm người có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền bị cáo đã chiếm đoạt, chỉ yêu cầu được nhận lại 8.650.000đ (Tám triệu, sáu trăm năm mươi ngàn đồng) do cơ quan Công an thu giữ của bị cáo và do mẹ bị cáo giao nộp. Yêu cầu này của bị hại là có căn cứ, được chấp nhận.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng  khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

1.1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị DL phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.2. Xử phạt: Bị cáo Võ Thị DL 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù được tính tư ngày 26 tháng 11 năm 2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng  Điêu 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điêu 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Hoàn trả lại cho ông JPM số tiền 8.650.000đ (Tám triệu, sáu trăm năm mươi ngàn đồng) đang được giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu theo Biên lai thu tiền số 0002009 ngày 05-03-2019.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên không xem xét.

4.Về án phí hình sự sơ thẩm : Bị cáo Võ Thị DL phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Ông JPM và bà Đặng Ngọc A vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.


42
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HS-ST ngày 03/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:47/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 03/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về