Bản án 47/2018/HS-ST ngày 21/03/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

BẢN ÁN 47/2018/HS-ST NGÀY 21/03/2018 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 21 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2018/HSST ngày 05 tháng 01 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2018/ QĐXXST- HS ngày 13/02/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Thúc V (tên gọi khác: Lô);

Sinh ngày 17 tháng 9 năm 1991 tại tỉnh Thừa Thiên Huế;

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Lô E, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Thúc Q (đã chết) và bà Đỗ Thị Huyền T, sinh năm 1965; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 03 tiền án; tiền sự:Không;

Nhân thân: Năm 2004, nhiều lần trộm cắp tài sản bị Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 02 năm.

Ngày 22/06/2007, bị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo”, về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Ngày 10/11/2007, bị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo”, về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 09/9/2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 năm 06 tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”.

Ngày 18/03/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 10/09/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 12/09/2017 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 25/10/2017, tạm giam từ ngày 27/10/2017 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

* Bị hại: Bà Lê Thị B, sinh năm 1976; trú tại: Tổ 2, KV1, phường A, thành phốH, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hà Thúc C, sinh năm1985; trú tại: Lô E, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

* Người làm chứng:

1.Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 2002; trú tại: Lô B, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

2.Ông Dương Bách E, sinh năm1997; trú tại: Lô C, phường A, thành phố H,tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

3. Bà Trần Thị Hồng F, sinh năm 1966; trú tại: đường D, phường P, thành phốH, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

4.Ông Trần Đức G, sinh năm 1981; trú tại: đường H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01h00 ngày 25/10/2017, Nguyễn Văn D (sinh ngày 15/6/2002, tên gọi khác: Hết, Cu Ếch) đi bộ từ cầu N đến Bến xe phía Bắc thành phố H, tìm nhà nào sở hở để trộm cắp. Khi đến nhà chị Lê Thị B (sinh năm 1976, trú tại Tổ 2, khu vực 1, phường A, thành phố H), D phát hiện thấy xe môtô hiệu Honda Wave biển số 75H9-3633 để ở trước sân, cổng nhà không khóa, chìa khóa đang cắm trên ổ khóa xe. D đã lợi dụng sơ hở, lén lút dắt xe môtô 75H9-3633 ra ngoài, rồi điều khiển xe đi về quán Internet ở phường P, thì gặp Hà Thúc V đang ngồi chơi game ở trong quán. D gọi V ra ngoài, cho V xem xe và nói: “xe em vừa mới trộm được, anh có chổ nào để bán không”. V nghe D nói vậy liền đồng ý và nói lại: “đi qua bên bờ Nam có chỗ bán xe”. Đến khoảng 04h00 cùng ngày, V điều khiển xe môtô hiệu Attila biển số 75H9-7157, còn D điều khiển xe môtô hiệu Honda Wave biển số 75H9-3633 đi từ phường P đến khu vực thu mua xe củ ở phường T, thị xã H để tìm nơi tiêu thụ. Khi đi ngang qua cầu vượt T thì gặp đối tượng Dương Bách E (Sinh năm 1997, trú tại Lô C, phường A, thành phố H - là bạn của V). V hỏi E có biết nơi nào bán xe không thì E hỏi lại “xe nào? Xe của ai”, V trả lời: “Xe của thằng em”. Nghe vậy, E nói “Đi về dưới Hương Thủy có vài chổ mua”. Sau đó, V chở E đi bằng xe của mình, còn D điều khiển xe môtô 75H9-3633 đi theo sau. Cả ba đi đến tiệm mua bán phế liệu, vừa định vào giao dịch để bán xe môtô 75H9-3633, thì bị lực lượng trinh sát Công an tỉnh Thừa Thiên Huế phát hiện, bắt giữ cùng tang vật, chuyển giao cho Công an thành phố Huế xử lý theo thẩm quyền. Vật chứng thu giữ:

- Một (01) chiếc xe môtô hiệu Wave anpha màu đỏ biển số 75H9-3633.

- Một (01) chiếc xe môtô hiệu Atila biển số 75H9-7157.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 351/KL-HĐĐG gày 25/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, chiếc xe môtô hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 75H9-3633 có giá trị 6.000.000đồng. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe môtô hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 75H9-3633 là do chị Trần Thị Hồng F (sinh năm 1966; trú tại đường D, phường P, thành phố H) đứng tên chủ sở hữu. Khoảng năm 2013, do không còn nhu cầu sử dụng,nên chị F đã bán chiếc xe này cho người khác (không rõ lai lịch). Khi bán, chị F không làm thủ tục sang tên, không viết giấy mua bán xe. Chiếc xe này được chị Bmua lại để sử dụng từ năm 2013, nhưng chưa tiến hành sang tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe môtô Honda Wave màu đỏ, biển số 75H9-3633 cho người bị hại. Chị Lê Thị B đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với chiếc xe môtô hiệu Attila biển số 75H9- 7157, qua điều tra xác định: Chiếc xe này là của anh Trần Đức G (sinh năm 1981, trú tại đường H, phường P, thành phố H) cho anh Hà Thúc C (sinh năm 1985, trú tại Lô E, phường P, thành phố H) mượn để đi lại. Anh C cho V mượn xe này để sử dụng và không biết việc V đã sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe này cho chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 04 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Hà Thúc V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm đ khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999, để tuyên bố bị cáo Hà Thúc V phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Hà Thúc V từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù.

Bị cáo Hà Thúc V không có ý kiến gì về cáo trạng của Viện kiểm sát nhânthành phố Huế đã truy tố.

Những người tham gia tố tụng khác đều vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Hà Thúc V đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố. Xét lời khaiđó là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp khách quan với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 01h00 ngày 25/10/2017, Nguyễn Văn D đã lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt của chị Lê Thị B chiếc xe môtô Honda Wave màu đỏ, biển số 75H9-3633 có giá trị 6.000.000 đồng. Sau đó, D nói cho Hà Thúc V biết chiếc xe này là do trộm cắp mà có, rồi nhờ đi tiêu thụ, V đồng ý và cùng với D đưa đi tiêu thụ nhưng chưa tiêu thụ được thì bị phát hiện bắt giữ.

Hà Thúc V là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc đưa tài sản do người khác phạm tội mà có đi tiêu thụ là vi phạm pháp luật nhưng xuất phát từ động cơ muốn hưởng lợi nên đã cùng với Nguyễn Văn D đi tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có. Hành vi của V đã trực tiếp xâm hại đến trật tự chung, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và tạo điều kiện khuyến khích cho người khác đi vào con đường phạm tội. Hành vi của Hà Thúc V đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bản án số 219/2015/HSST ngày 10/9/ 2015 của Tòa án nhân dân thành phố Huế chưa được xóa án tích nay bị cáo tiếp tục phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Hà Thúc V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm đ khoản 2 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Văn D khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình nên cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm là có căn cứ.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo có tính chất, mức độ nguy hiểm được phân loại là nghiêm trọng. Bị cáo không phạm vào các tình tiết tăng nặng mà được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như: Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm g và p khoản 1Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xét về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội nên cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương ứng với hành vi phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại tài sản cho người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hà Thúc V phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm g và p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt:

Bị cáo Hà Thúc V 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ 25/10/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 2 xe mô tô cho chủ sở hữu không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hà Thúc V phải chịu 200.000đồng.

Báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người trên vắng mặt có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


646
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2018/HS-ST ngày 21/03/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 

Số hiệu:47/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Huế - Thừa Thiên Huế
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/03/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về