Bản án 47/2017/HS-ST ngày 22/08/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 47/2017/HS-ST NGÀY 22/08/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 22 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/2017/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo: Lý Cù P; sinh năm: 1981; nơi sinh: huyện SH, tỉnh LC; trú tại: bản NS2, xã LM, huyện SH, tỉnh LC; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: D; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Lý Cù T và bà Phùng Mý S; vợ, con: không; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 22 tháng 3 năm 2017; tạm giam từ ngày 28 tháng 3 năm 2017 đến ngày 15 tháng 6 năm 2017 bị cáo được tại ngoại; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lý Cù C; sinh năm: 1985; trú tại: bản NS2, xã LM, huyện SH, tỉnh LC; vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 22 tháng 3 năm 2017 Lý Cù P cầm theo 25.000 đồng một mình đi đến nhà Lý Cù C nhờ C dùng xe máy chở P lên thị trấn Sìn Hồ để mua thuốc chữa bệnh khớp. C đồng ý và dùng xe máy chở P đến hiệu thuốc đối diện với Trung tâm Y tế huyện Sìn Hồ, P vào mua thuốc nhưng không đủ tiền nên không mua được. Khoảng 17 giờ cùng ngày, P nhờ C chở P vào bản Hoàng Hồ, xã Phăng Sô Lin, huyện Sìn Hồ có chút việc. Khi C chở P đến đầu bản Hoàng Hồ, P bảo C đợi còn một mình P đi vào trong bản. Vào đến bản Hoàng Hồ, P gặp một người đàn ông dân tộc M, khoảng 50 tuổi, P không biết tên, địa chỉ, P hỏi có Hêrôin (Heroine) thì bán cho P 20.000 đồng. Người đàn ông trả lời là có Hêrôin nhưng không mang theo, bảo P đưa 20.000 đồng rồi đứng chờ, khoảng 30 phút sau người đàn ông quay lại đưa cho P một gói Hêrôin được gói ngoài bằng nilon màu đen. P cầm Hêrôin trên tay trái rồi đi ra chỗ C đợi, bảo C chở đi về nhà. Khoảng 18 giờ 15 phút, khi C, P đi đến Km 02 + 600, tỉnh lộ 128, thuộc khu 1, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ thì bị Tổ công tác đội phòng chống ma túy Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu dừng xe kiểm tra hành chính, bắt quả tang Lý Cù P thả từ tay trái xuống đất 0,28 gam Hêrôin.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng và trích mẫu giám định của Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu vào ngày 23 tháng 3 năm 2017 xác định: chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Lý Cù P (đã bỏ bao bì bên ngoài) có trọng lượng là 0,28 gam; lấy toàn bộ 0,28 gam chất bột khô, vón cục, màu trắng làm mẫu vật gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 144/GĐ-KTHS, ngày 29 tháng 3 năm 2017 của Phòng Kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Vật chứng thu giữ của Lý Cù P gửi đến giám định là Hêrôin (Heroine); Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, số thứ tự 20, Nghị định 82 ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ; có trọng lượng là 0,28 gam, đã trừ bì.

Tại bản Cáo trạng số: 39/CT-VKS ngày 21 tháng 7 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị can Lý Cù P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự, tương ứng với quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã công bố, không oan, sai.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố, bị cáo Lý Cù P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 194; Điều 33, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm 6 tháng tù; xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự; đối với 0,28 gam Hêrôin thu giữ của Lý Cù P, toàn bộ mẫu vật đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu gửi đi giám định. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu không hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và có giá trị pháp lý có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Hồi 18 giờ 15 phút tại km 02 + 600 đường tỉnh lộ 128, thuộc khu 1, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Lý Cù P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,28 gam Hêrôin với mục đích để bị cáo sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Do vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy; là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình hình vi phạm pháp luật về ma túy gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo nhận thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cỗ ý thực hiện, nên cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, phục vụ đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Trình độ văn hóa của bị cáo là 3/12 nên phần nào ảnh hưởng đến khả năng hiểu biết, nhận thức pháp luật của bị cáo. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể

hiện sự khoan hồng trong pháp luật của Nhà nước. Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức Cơ quan Điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 (Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội) thì: Kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được công bố, tiếp tục thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14. Nên các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự, bị cáo bị xử phạt tù từ 02 đến 07 năm; Theo quy định khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hình phạt đối với bị cáo là từ 1 đến 5 năm là nhẹ hơn so với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định này.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và bản luận tội Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Nhưng về mức hình phạt đề nghị áp dụng có phần nặng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản. Bị cáo không lao động trong các ngành, nghề hoặc công việc cần phải cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc cấm hành nghề. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tại biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng và trích mẫu giám định ngày 23 tháng 3 năm 2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã gửi toàn bộ 0,28 gam Hêrôin thu giữ của bị cáo đi giám định. Sau khi giám định và có kết luận, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu không hoàn lại mẫu vật gửi giám định.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại sirius, màu xanh đen, biển kiểm soát 25B1 – 203.23 cũ, đã qua sử dụng mà Lý Cù C đã sử dụng để chở Lý Cù P đi đến thị trấn Sìn Hồ, đến bản Hoàng Hồ, xã Phăng Sô Lin, huyện Sìn Hồ do được P nhờ. Trong giai đoạn điều tra, xét thấy Lý Cù C không đồng phạm với P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã trả lại chiếc xe máy trên cho Lý Cù C.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Theo lời khai của bị cáo Lý Cù P, 0,28 gam Hêrôin bị cáo tàng trữ là do mua của một người đàn ông dân tộc M, khoảng 40 tuổi, bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ. Đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu không xác định được người đó là ai, ở đâu, nên không có căn cứ điều tra, xử lý trong vụ án này.

Đối với Lý Cù C, là người điều khiển xe máy chở Lý Cù P đến thị trấn Sìn Hồ để mua thuốc chữa bệnh và chở đến bản Hoàng Hồ, xã Phăng Sô Lin. Trong thời gian chở P đi và về, C không biết P mua, tàng trữ trái phép chất ma túy, nên P không đồng phạm với bị cáo về hành vi phạm tội.

Theo lời khai của bị cáo, số tiền bị cáo dùng để mua Hêrôin là do mẹ của bị cáo là bà Phùng Mý S cho bị cáo. Khi bị cáo dùng số tiền này để mua Hêrôin về sử dụng không nói cho bà S biết, nên bà S không đồng phạm với bị cáo về hành vi phạm tội.

Vì các lẽ trên,

1. Tuyên bố:

QUYẾT ĐỊNH

Bị cáo Lý Cù P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Lý Cù P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, được trừ 02 tháng 23 ngày bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 07 (bảy) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt đầu vào trại chấp hành hình phạt tù.

2. Hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lý Cù P, theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

3. Án phí sơ thẩm:

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 231, 234 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 22 tháng 8 năm 2017); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết


97
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về