Bản án 466/2019/DSPT ngày 08/10/2019 về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 466/2019/DSPT NGÀY 08/10/2019 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 08 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 276/2019/TLPT-DS ngày 21 tháng 5 năm 2019 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DSST ngày 21 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2166/2019/QĐ-PT ngày 13 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị Th, sinh năm 1963.

Địa chỉ: 4217 Maxson # Rd 12 E1 Monte, CA 91732, USA.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Hoài H, sinh năm 1966 (có mặt) (theo văn bản ủy quyền ngày 13/12/2016) Địa chỉ: số 108 Đặng D, phường V Q, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Phạm Hoàng Kh thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang (có mặt) Bị đơn:

1. Ông Trương Tấn Q, sinh năm 1972 (có mặt)

2. Bà Bùi Thị Ngh, sinh năm 1971 (có mặt)

Cùng trú tại: số 39/16 Trần Quốc Toản, khu phố Đông Hồ, phường V Th, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: số 39/23/6 Trần Quốc Toản, khu phố Đông Hồ, phường V Th, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trương Thị H, sinh năm 1978.

Địa chỉ: số 1821 South 4th St. APT B Alhambra CA 91803 USA.

2. Bà Trương Thị Ph, sinh năm 1965 (có mặt)

Địa chỉ: số 344 Mạc Cửu, phường V Th, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.

3. Ông Lâm Quốc N, sinh năm 1971.

Địa chỉ: số 20/3 Nguyễn Công Trứ, phường V Th, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.

Người làm chứng:

1. Ông Trương Tấn P, sinh năm 1972.

Địa chỉ: số 39/23/4 Đông Hồ, khu phố Đông Hồ, phường V Th, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.

2. Bà Trương Thị Ch, sinh năm 1961.

Địa chỉ: số 1391 ấp Tân Bình, xã G T, huyện Ch Th, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn, bà Trương Thị Th do đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Thị Hoài H trình bày:

Phần diện tích 174,9m2 đất thuộc thửa số 78, tờ bản đồ số 144, tọa lạc tại hẻm đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, khu phố Đồng Khởi, phường V Q, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang có nguồn gốc đất do bà Trương Thị Th nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị Thủy Th với giá 340 chỉ vàng 24k, được đăng ký biến động, sang tên cho bà Trương Thị Th ngày 02/7/2000.

Năm 2004 khi sang Mỹ định cư bà Th có nhờ em ruột là bà Trương Thị H đứng tên dùm quyền sử dụng đất nêu trên, có lập văn bản thỏa thuận vào ngày 03/11/2004. Đến năm 2008 bà Hoa đi Mỹ định cư, bà Th yêu cầu bà Hoa chuyển QSD đất cho em ruột là ông Trương Tấn Q đứng tên hộ.

Ngày 07/12/2007 ông Q lập giấy xác nhận đứng tên hộ cho bà Th có xác nhận của UBND phường Vĩnh Quang ngày 08/1/2008. Cùng ngày bà Hoa lập hợp đồng tặng cho QSD đất trên cho ông Q có chứng thực của UBND phường Vĩnh Quang. Sau khi ông Q đứng tên giấy chứng nhận QSD đất thì bà Th giữ giấy chứng nhận QSD đất, định sau này khi về Việt Nam sinh sống sẽ nhận lại QSD đất trên. Sau đó do chị em bất hòa, bà Th yêu cầu ông Q chuyển QSD đất cho bà Trương Thị Ph đứng tên giùm. Ông Q cũng đồng ý và yêu cầu bà Th gửi giấy chứng nhận QSD đất bản chính về làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất để bà Phụng đứng tên hộ. Ngày 29/6/2016 ông Q và bà Phụng lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có công chứng và nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký QSD đất để đăng ký biến động chuyển cho bà Phụng đứng tên QSD đất trên.

Sau khi nộp thủ tục tại Văn phòng đăng ký QSD đất thì được biết trước đó ông Q đã thông báo trên Đài truyền hình là mất giấy chứng nhận QSD đất do ông Q đứng tên hộ cho bà Th và có đơn yêu cầu UBND thành phố Rạch Giá cấp lại giấy CNQSD đất nêu trên. Ngày 20/4/2015 ông Q được UBND thành phố Rạch Giá cấp lại giấy chứng nhận QSD đất và hủy giấy chứng nhận QSD đất đã mất, nhưng thực tế bà Th đang giữ giấy chứng nhận QSD đất khi làm thủ tục sang tên cho bà Phụng. Hiện tại giấy chứng nhận QSD đất do ông Q đứng tên hộ bà Th do Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Rạch Giá đang thu giữ.

Nay bà Th yêu cầu Tòa án buộc ông Trương Tấn Q và vợ là Bùi Thị Ngh trả lại cho bà Th diện tích 174,9m2, thửa số 78, tờ bản đồ số 144, đất tọa lạc tại hẻm đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, khu phố Đồng Khởi, phường V Q, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. Nay là đường Hàn Thuyên, khu phố Huỳnh Thúc Kháng, phường V Q, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. Nếu ông Q, bà Ng không đồng ý trả lại QSD đất trên thì yêu cầu ông Q, bà Ng trả giá trị QSD đất tạm tính là 700.000.000 đồng.

- Bị đơn, ông Trương Tấn Q trình bày:

Quyền sử dụng đất mà bà Th kiện ông là do bà Trương Thị H tặng cho ông theo hợp đồng hợp pháp năm 2008, diện tích đất 174,9m2 theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5301020720 ngày 26/9/1999.

Nguồn gốc đất là của ông Lâm Văn Lự, bà Nguyễn Thị Điệp đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị Thủy Thu, sau đó bà Thu chuyển nhượng cho bà Trương Thị Th vào năm 2000, bà Th đã chuyển quyền sử dụng cho bà Trương Thị H vào năm 2004.

Như vậy phần đất này đã qua 3 người và ông là người thứ 4. Do vậy, ông không còn liên quan gì đến bà Trương Thị Th bởi bà Hoa là người đã chuyển nhượng QSD đất cho ông. Việc bà Th làm đơn khởi kiện đòi phải trả giá trị đất 700.000.000 đồng, ông không chấp nhận vì trước đây bà Th đã chuyển nhượng cho bà Hoa thì bà Th phải đòi bà Hoa trả lại quyền sở hữu nhà, vì ông được bà Hoa chuyển nhượng tặng cho đất là hợp pháp.

Ồng không đồng ý trả giá trị đất cho bà Th theo đơn khởi kiện của bà Thành, chữ ký tên Quới trong Đơn xác nhận ngày 07/12/2007 do bà Th cung cấp kèm theo đơn khởi kiện không phải chữ ký của ông, ghi năm trong đơn bị sửa từ 2008 thành 2007 là không họp lệ so với thời gian xác nhận của UBND phường Vĩnh Quang. Bà Bùi Thị Ngh trình bày:

Bà không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Q trả lại QSD đất tọa lạc tại đường Hàn Thuyên, khu phố Huỳnh Thúc Kháng, phường V Q, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. Lý do QSD đất tranh chấp là do bà Hoa tặng cho ông Q nên đây là tài sản riêng của ông Quới. Bà xác định tiền ông Q cho thuê QSD đất và thế chấp giấy chứng nhận QSD đất vay không liên quan đến bà và không có yêu cầu gì trong vụ án này. Bà yêu cầu nguyên đơn bồi thường danh dự, uy tín cho bà do nguyên đơn kiện bà không đúng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trương Thị Ph trình bày: Bà là chị em ruột với bà Th và ông Quới. Theo bà biết nguồn gốc QSD đất là của bà Th nhận chuyển nhượng và đứng tên giấy chứng nhận QSD đất hợp pháp năm 2000. Năm 2004 bà Th đi định cư ở Hoa Kỳ nên nhờ bà Hoa đứng tên giùm giấy chứng nhận QSD đất. Năm 2008 bà Hoa đi định cư tại Hoa Kỳ nên bà Th nhờ ông Q đứng tên giùm giấy chứng nhận QSD đất, nhưng bản gốc giấy chứng nhận QSD đất do bà Th giữ.

Năm 2015 anh em có mâu thuẫn nên bà Th yêu cầu ông Q làm thủ tục chuyển nhượng QSD đất cho bà đứng tên giùm. Ngày 09/2/2016 ông Q ký hợp đồng tặng cho QSD đất cho bà để đứng tên giùm theo ý kiến của bà Thành, nhưng thực tế năm 2015 ông Q làm đơn cớ mất và thông báo mất giấy chứng nhận QSD đất. Sau đó ông Q đã được UBND thành phố Rạch Giá cấp lại giấy chứng nhận QSD đất. Khi bà mang bản gốc giấy chứng nhận QSD đất đến Văn phòng đăng ký QSD đất thành phố Rạch Giá để làm thủ tục sang tên thì thì được thông báo ông Q đã được cấp lại giấy chứng nhận đối với QSD đất trên. Sau đó, ông Q không đồng ý sang tên QSD đất trên để bà đứng tên giùm bà Thành.

Việc ông Q đứng tên giùm QSD đất cho bà Th là đúng nên ông Q có trách nhiệm trả lại cho bà Th toàn bộ diện tích đất trên hoặc giá trị đất. Bà và ông Q không mua bán chuyển nhượng QSD đất tranh chấp như trình bày của Quới. Bà Thành, bà Phụng, anh Quới, chị Hoa và hai người làm chứng anh Phú, chị Chung là chị em ruột với nhau.

2. Ông Lâm Quốc N trình bày:

Ông có hợp đồng thuê QSD đất tại đường Hàn Thuyên, khu phố Huỳnh Thúc Kháng, phường Vĩnh Quang, diện tích ngang 10m, dài 17,5m của ông Trương Tấn Q. Ông thuê đất này cách đây đã 4 năm, hợp đồng 2 năm ký lại một lần, ký họp đồng lại lần gần nhất là đầu năm 2018, giá thuê mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian trả tiền 03 tháng trả một lần, mục đích thuê QSD đất để làm xưởng mộc. Ông chỉ thuê đất còn toàn bộ xưởng mộc là do ông tự làm bằng nhà tiền chế (nhà tạm). Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thành, buộc ông Q trả đất cho bà Th thì ông sẽ tự di dời nhà xưởng và tính toán tiền thuê đất với ông Q chứ không có yêu cầu gì đối với ông Q hoặc bà Th trong vụ án này.

- Người làm chứng: Ông Trương Tấn P và Bà Trương Thị Ch xác định ông bà là chị em ruột với bà Th và ông Q và có nghe chị em trong gia đình nói lại là ông Q đứng tên giùm bà Th QSD đất đang tranh chấp. Bà Hoa chuyển quyền sử dụng đất cho ông Q là do bà Hoa đứng tên giùm bà Th chứ bà Hoa không có đất để tặng cho ông Q như trình bày của ông Quới.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DSST ngày 21 tháng 11 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang quyết định:

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trương Thị Th đối với bà Bùi Thị Ngh về việc đòi tài sản.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Th đối với bị đơn, ông Trương Tấn Q về việc đòi tài sản.

Buộc ông Trương Tấn Q có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà Trương Thị Th đối với diện tích đất 174,9m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Trương Thị Th sang tên ngày 02/7/2000, ông Trương Tấn Q được ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/4/2015, quyền sử dụng đất tại đường Hàn Thuyên, khu phố Huỳnh Thúc Kháng, phường V Q, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang theo định giá là 1.379.961.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/12/2018 và 11/12/2018 bị đơn, ông Trương Tấn Q kháng cáo yêu cầu hủy một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo, bị đơn ông Trương Tấn Q thay đổi kháng cáo, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm vì bà Th khởi kiện bà Hoa mới đúng, còn bà Hoa tặng cho quyền sử dụng đất cho ông thì bà Hoa khởi kiện ông Q mới đúng trình tự. Bà Th khởi kiện đòi đất với giá trị quyền sử dụng đất 700 triệu đồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Q phải trả 1.379.961.000 đồng là vượt quá yêu cầu khởi kiện và giá trị hoàn trả này là quá cao.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Q trình bày, về tố tụng quyết định của bản án sơ thẩm vượt quá yêu cầu khởi kiện, bà Th yêu cầu trả giá trị 700 triệu đồng nhưng buộc ông Q trả 1.379.961.000 đồng nhưng không tạm ứng án phí theo yêu cầu khởi kiện là không đúng; không hủy các hợp đồng và các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng; và tuyên không rõ diện tích, số thửa tờ bản đồ, vị trí, tứ cận nên không thể thi hành được. Đồng thời Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Quang xác nhận giao dịch đứng tên giùm là trái pháp luật, không đúng, không có giá trị. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày, đây là tranh chấp đòi quyền sử dụng đất với giá trị tạm tính là 700 triệu đồng theo đơn khởi kiện nhưng khi đo đạc, định giá thì Tòa án giải quyết trên cơ sở giá trị quyền sử dụng đất theo định giá là không vượt quá yêu cầu khởi kiện và nguyên

đơn chỉ đòi tài sản là quyền sư dụng đất, không yêu cầu hủy các hợp đồng nên không được đặt ra để giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Phần đất tranh chấp có diện tích 174,9m2 thuộc thửa số 78, tờ bản đồ số 144, tọa lạc tại đường Hàn Thuyên, khu phố Huỳnh Thúc Kháng, phường V Q, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của của ông Trương Tấn Q theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số BY 645194 ngày 20/4/2015 của UBND thành phố Rạch Giá (BL.127,128) Giá trị quyền sử dụng đất theo định giá của Công ty cổ phần bất động sản Kiên Giang ngày 01/9/2017 là 1.379.961.000 đồng.

Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì đất tranh chấp có nguồn gốc do bà Th nhận chuyển nhượng của bà Ngô Thị Thủy Th với giá 340 chỉ vàng 24k và được đăng ký biến động, sang tên cho bà Trương Thị Th ngày 02/7/2000.

Năm 2004 khi sang Mỹ định cư bà Th có nhờ em ruột là bà Trương Thị H đứng tên giùm quyền sử dụng đất nêu trên theo văn bản thỏa thuận được UBND phường Vĩnh Quang xác nhận vào ngày 03/11/2004 (BL.35) nên bà Hoa đã làm thủ tục và đứng tên theo đăng ký biến động ngày 2/11/2004.

Đến năm 2008 bà Hoa đi Mỹ định cư, bà Th yêu cầu bà Hoa chuyển QSD đất cho em ruột là ông Trương Tấn Q đứng tên hộ QSD đất nêu trên. Theo đó ông Q có làm đơn được xác nhận tại UBND phường Vĩnh Quang ngày 8/1/2008, nên ông Q với bà Hoa làm thủ tục tặng cho, đăng ký biến động ngày 8/1/2008 (BL.34) Sau đó, ngày 13/1/2015 ông Q làm thủ tục cớ mất giấy chứng nhận nên UBND thành phố Rạch Giá đã hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5301020720 ngày 26/9/1999 theo Quyết định số 95/QĐ- UBND ngày 20/4/2015 và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số BY 645194 ngày 20/4/2015 của UBND thành phố Rạch Giá.

Ngày 29/02/2016 ông Q lập hợp đồng tặng cho nhà đất cho vợ là bà Trương Thị Ph tại Văn Phòng Công chứng Kiên Giang nhưng ngày 28/4/2016 Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Rạch Gía không đồng ý lập thủ tục tặng cho giữa ông Q với bà Phụng với lý do giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5301020720 ngày 26/9/1999 đã bị hủy.

Mặc dù ông Q không thừa nhận đứng tên giùm nhưng nhưng lời khai của bà Hoa, bà Thành, bà Phụng là phù hợp với thỏa thuận về việc đứng tên giùm giữa ông Q với bà Hoa và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Bà Th khởi kiện đòi quyền sử dụng đất với lý do nhờ ông Q đứng tên giùm quyền sử dụng đất 174,9 m2 là có cơ sở. Bà Th hiện đang định cư tại Hoa Kỳ không có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận QSD đất ở theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Thành, buộc bị đơn, ông Trương Tấn Q hoàn trả cho bà Th giá trị quyền sử dụng 174,9 m2 với số tiền 1.379.961.000 đồng, là có căn cứ.

Tại phiên Tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Q yêu cầu hủy bản án sơ thẩm vì chưa hủy các hợp đồng tặng cho giữa bà Hoa với ông Quới. Tuy nhiên, đây là quan hệ tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất còn việc xác lập quan hệ hợp đồng tặng cho giữa bà Hoa và ông Q đã được thực hiện trên thủ tục và ông Q đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đang quản lý sử dụng đất, các bên không yêu cầu hủy các hợp đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm không đặt ra giải quyết là có căn cứ.

Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trương Tấn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ông Trương Tấn Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trương Tấn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trương Thị Th đối với bà Bùi Thị Ngh về việc đòi tài sản.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trương Thị Th đối với bị đơn, ông Trương Tấn Q về việc đòi tài sản.

- Buộc ông Trương Tấn Q có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà Trương Thị Th đối với diện tích đất 174,9m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trương Thị Th sang tên ngày 02/7/2000, ông Trương Tấn Q được ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/4/2015, quyền sử dụng đất tại đường Hàn Thuyên, khu phố Huỳnh Thúc Kháng, phường V Q, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang theo định giá là 1.379.961.000 (một tỷ, ba trăm bảy mươi chín triệu, chín trăm sáu mươi một nghìn) đồng.

- Ông Trương Tấn Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, đã nộp theo biên lai thu số 0000513 ngày 11/12/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. - Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


841
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 466/2019/DSPT ngày 08/10/2019 về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất

Số hiệu:466/2019/DSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về