Bản án 46/2020/HS-ST ngày 16/06/2020 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 46/2020/HS-ST NGÀY 16/06/2020 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2020 theo các Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2020/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

+ Trần Đ, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1978 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 10 TK, xã LK, huyện TN, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B (đã chết) và bà Đức Thị N; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/02/2020 đến ngày 26/02/2020 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Đ: Bà Nguyễn Thị Tố H - Luật sư Công ty luật Khánh Linh thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng; có mặt

- B hại:

+ Chị Lê Thị H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn 10 Thiểm Khê, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (Đã chết)

+ Anh Trịnh Văn H, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn 10 Thiểm Khê, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (Đã chết)

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:  

+ Bà Trịnh Thị T (tên gọi khác Năm), sinh năm 1948 (Mẹ đẻ bị hại chị Lê Thị H); có mặt

+ Ông Trịnh Văn T, sinh năm 1945 (Bố đẻ bị hại Trịnh Văn Huấn); có mặt

+ Bà Phạm Thị H, sinh năm 1946 (Mẹ đẻ bị hại Trịnh Văn Huấn ủy quyền cho ông Trịnh Văn Thưởng tham gia tố tụng); có mặt

Đều trú tại: Thôn 10 TK, xã LK, huyện TN, thành phố Hải Phòng

- Người làm chứng:

+ Bà Lê Thị T; vắng mặt

+ Ông Nguyễn Đức C; vắng mặt

+ Trịnh Văn H; có mặt

+ Đức Thị N; vắng mặt

+ Trịnh Đình D; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 12/9/2003, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc phát hiện 02 nạn nhân nằm trên vũng máu với nhiều vết thương trên người, trong đó nạn nhân nữ giới trong tình trạng bị thương rất nặng, nạn nhân nam giới đã bị chết tại khu vực trước cổng chùa Thiểm Khê thuộc thôn 10, xã LK, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Hai nạn nhân trên được xác định là chị Lê Thị Hiền, sinh năm 1984 và anh Trịnh Văn Huấn, sinh năm 1977, cùng trú tại: Thôn 10, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Ngay sau đó, chị Hiền được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng đã chết.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã ghi nhận tại khu vực lối đi trước cổng chùa Thiểm Khê có nhiều dấu vết máu vũng trên diện rộng, kích thước từ 60x30cm đến 80x90cm. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã thu giữ được một số đồ vật, gồm: 01 đôi dép nhựa màu trắng; 02 chiếc dép da màu đen; 01 bao thuốc lá Bông sen dùng dở; 01 đồng hồ hiệu Orient SK mặt đỏ; 01 áo sơ mi nam dài tay màu trắng; 01 áo phông ngắn tay màu trắng; 01 áo phông ngắn tay màu vàng; 02 chiếc giày da đen cao cổ.

Ngày 20/9/2003, Cơ quan điều tra đã tiến hành 01 con dao dài 42cm, nắm dao bằng gỗ dài 11 cm, đường kính khoảng 3 cm, hai đầu gỗ của nắm có hai khâu sắt đen, lưỡi dao bằng sắt dài 31 cm, mũi dao nhọn, điểm rộng nhất của lưỡi dao 2,7cm, phần tiếp giáp cán dao rộng 2,3cm, dạng dao nhọn thuôn dài tại khu vực núi sau chùa Thiểm Khê. Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra còn thu giữ một số đồ vật liên quan khác, như: quần áo, giầy dép của nạn nhân; 01 vỏ áo gối; 02 con dao bài; 01 con dao rựa và 01 quyển vở học sinh 22 tờ có chữ viết.

Tại Kết luận giám định số 2607/C21(P6) ngày 16/10/2003 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an xác định: Các dấu vết nghi máu thu tại hiện trường, trên chiếc đồng hồ Orient SK, trên áo sơ mi nữ màu vàng, áo sơ mi nam màu trắng và áo phông ngắn tay màu trắng (áo may ô) đều là máu người, thuộc nhóm máu O. Mẫu máu của tử thi Lê Thị Hiền và Trịnh Văn Huấn đều thuộc nhóm máu O.

Tại các Bản giám định pháp y số 22-449/03 ngày 24/9/2003; số 23-450/03 ngày 24/9/2003 của Tổ chức giám định pháp y thành phố Hải Phòng; Công văn số 28/2020/CV ngày 06/3/2020 của Trung tâm pháp y Hải Phòng, xác định: Nạn nhân Lê Thị Hiền có 05 vết thương trên cơ thể, trong đó có vết thương thấu phổi và gan trái, chảy nhiều máu trong khoang ngực bụng. Nạn nhân Trịnh Văn Huấn có khoảng 16 vết thương trên cơ thể, trong đó có 02 vết thương thấu phổi trái và 01 vết thương thấu tim. Cả hai nạn nhân bị chết là do sốc đa vết thương và mất máu cấp không hồi phục. Các vết thương trên thi thể hai nạn nhân đều có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật sắc nhọn, có 01 lưỡi sắc và 01 sống gây nên. Với đặc điểm của con dao cán gỗ mà Cơ quan điều tra đã thu giữ ngày 20/9/2003 có thể gây nên được các vết thương trên người nạn nhân Lê Thị H và Trịnh Văn H

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã ra Lệnh bắt khẩn cấp đối với Trần Đ, nhưng do Đạo đã bỏ trốn khỏi địa phương nơi cư trú nên không bắt được. Đến ngày 17/02/2020 Đạo có đơn gửi đến Cơ quan Công an xin được đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Đ khai nhận: Do có tình cảm yêu đương đơn phương với chị Lê Thị Hiền nhưng không được đáp lại nên Trần Đ đã nảy sinh ý định giết chị Hiền rồi tự sát. Để thực hiện ý định này, Đạo đến làng Trúc ở xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên thuê người rèn 01 một con dao nhọn, sau đó đem giấu tại bụi tre gần khu vực cổng chùa Thiểm Khê chờ cơ hội. Khoảng 21 giờ ngày 12/9/2003, Đạo ra khu vực cổng chùa ngồi chờ, đón đường chị Hiền về để giết. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Đạo nhìn thấy chị Hiền đi bộ phía trước, anh Huấn dắt xe đạp đi phía sau đang trên đường đi về nhà. Đạo đến chỗ bụi tre lấy dao, tiến về phía chị Hiền vung dao đâm nhiều nhát làm chị Hiền gục xuống. Khi anh Huấn chạy đến ôm, giữ Đạo, thì hai bên giằng co, Đạo tiếp tục vung dao đâm liên tiếp nhiều nhát vào người anh Huấn. Sau khi gây án, Đạo cởi bỏ áo đang mặc để lại hiện trường rồi cầm theo dao bỏ chạy lên núi sau chùa Thiểm Khê, trên đường bỏ chạy Đạo đã vứt lại đôi giày da màu đen của mình, cách khu vực chị Hiền và anh Huấn bị đâm khoảng 100m. Khi Đạo chạy đến vị trí ngôi mộ hoang ở gần khu vườn sắn của gia đình ông Nguyễn Trọng Quân thì dừng lại, dùng con dao trên tự đâm vào vùng bụng và cắt cổ tay mình để tự sát rồi vứt dao tại khu vườn sắn. Đạo nằm tại khu vực ngôi mộ đến sáng hôm sau thì tỉnh dậy, sau đó Đạo bỏ đi và lang thang, nhặt ve chai, làm thuê kiếm sống tại một số nơi không cố định trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Nguyên.... Tại các Kết luận giám định số 2607/C21(P6) ngày 16/10/2003 và số 885/C09-TT3 ngày 19/02/2020 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: dấu vết máu trên chiếc giày da màu đen bên phải là máu của Trần Đ.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 96/2020/GĐPY ngày 06/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng xác định: trong các vết sẹo cũ để lại trên người Trần Đ, vùng thượng vị - hạ sườn trái có 02 vết sẹo phẳng kích thước (2 x 1)cm và (1,5 x 0,5)cm; mặt trước cẳng tay trái sát vết lằn cổ tay có 01 vết sẹo phẳng nằm ngang kích thước (6 x 0,1)cm. Các vết sẹo trên có đặc điểm hình thành do vật sắc nhọn.

Tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKS-P2 ngày 28 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Đ về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Nay là điểm a,n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng. Bị cáo khai có ý định giết chị Lê Thị H do chị Hiền không yêu bị cáo sau đó bị cáo sẽ tự tử chết; bị cáo nhờ người rèn dao; sau đó ngày 12/9/2003 bị cáo ngồi chờ tại cổng chùa Thiểm Khê đợi chị Hiền thấy chị Hiền đang đi cùng anh Trịnh Văn Huấn về thì bị cáo đâm chị Hiền trước; anh Huấn vào can ngăn bị cáo đâm anh Huấn sau đó cởi áo mặc và vất đôi giầy đen tại hiện trường rồi bỏ đi lên núi dùng dao đâm vào ức, cắt cổ tay tự sát nhưng không chết. Bị cáo vào nhà bà Thửa, ông Chín xin thuốc sâu tự tử nhưng không được. Sau đó bị cáo bỏ trốn nhiều nơi, khi đến thành phố Nha trang, tỉnh Khánh Hòa bị cáo cảm thấy hối hận nên nhờ người viết đơn xin đầu thú. Tại phiên tòa bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và khai: Tội bị cáo nặng bị cáo thấy không thể tha thứ được đáng lẽ bị cáo phải chết cùng chị Hiền. Bị cáo thừa nhận lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản Cáo trạng đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của gia đình bị hại khai: Tại cơ quan điều tra gia đình bị hại chị Lê Thị H yêu cầu bồi thường 240 triệu tiền mai táng phí và tổn thất tinh thần; tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại chị Lê Thị H yêu cầu bồi thường 90 triệu đồng và tiền bồi thường về tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật và tiền cấp dưỡng cho bà Tý 1.000.000 đồng/tháng. Người đại diện hợp pháp cho anh Trịnh Văn Huấn yêu cầu bồi thường bồi thường chi phí mai táng là 90 triệu đồng và tiền bồi thường về tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật. Đồng thời đại diện hợp pháp của 02 gia đình bị hại đều đề nghị xét xử bị cáo mức án cao nhất.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Hải Phòng vẫn giữ nguyên quan điểm truy t bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a,n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Nay là điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử: Bị cáo Trần Đ mức án: Tử hình về tội “Giết người”

- Về dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của đại diện hợp pháp của gia đình chị Hiền, anh Huấn số tiền 90 triệu đồng tiền mai táng phí của mỗi gia đình. Đối với tiền bồi thường về tổn thất tinh thần đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận 100 tháng lương cơ sở do lỗi hoàn toàn do bị cáo. Đối với số tiền cấp dưỡng cho bà Tý 1.000.000 đồng/tháng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về xử lý vật chứng, án pí, quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Quan điểm Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Đ: Luật sư không có ý kiến gì về tội danh điều khoản Viện kiểm sát truy tố. Tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo không có tiền án tiền sự; bị cáo phạm tội do tình yêu mù quáng dẫn đến giết người rồi tự tử. Sau khi tự tử không thành bị cáo bỏ trốn sau đó bị cáo nhờ người viết đơn đầu thú đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm q khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015) “Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm” do vụ án xảy ra đã lâu quá trình điều tra gặp nhiều khó khăn bị cáo đã rất tích cực giúp cơ quan điều tra giải quyết vụ án. Mặt khác lúc đầu bị cáo chỉ có ý định giết 1 mình chị Hiền. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án Chung thân để bị cáo có cơ hội sống làm lại cuộc đời.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin lỗi gia đình bị hại

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về t tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, tử thi, kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ việc có tình cảm yêu đương với chị Lê Thị H nhưng không được đáp lại nên Trần Đ đã nảy sinh ý định giết chị Hiền; tối ngày 12/9/2003 tại cổng chùa Thiểm Khê, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, bị cáo Trần Đ đã sử dụng hung khí là con dao có lưỡi sắc, đầu nhọn dài 42cm bằng gỗ dài 11cm, đường kính khoảng 3cm (dạng dao thuôn) được chuẩn bị từ trước đâm nhiều nhát vào người chị Lê Thị H. Khi anh Trịnh Văn Huấn là người yêu của chị Hiền đến can ngăn thì Trần Đ tiếp tục sử dụng con dao trên đâm nhiều nhát vào người anh Huấn, hậu quả làm chị Hiền và anh Huấn chết. Sau khi gây án, Trần Đ cởi bỏ áo đang mặc để lại hiện trường rồi cầm theo dao bỏ chạy lên núi sau chùa Thiểm Khê, trên đường bỏ chạy Đạo đã vứt lại đôi giày da màu đen của mình, cách khu vực chị Hiền và anh Huấn bị đâm khoảng 100m. Khi Đạo chạy đến vị trí ngôi mộ hoang ở gần khu vườn sắn của gia đình ông Nguyễn Trọng Quân thì dừng lại, dùng con dao trên tự đâm vào vùng ức và cắt cổ tay mình để tự sát rồi vứt dao tại khu vườn sắn. Trần Văn Đạo nằm tại khu vực ngôi mộ đến sáng hôm sau thì tỉnh dậy, sau đó Đạo bỏ đi lang thang và bỏ trốn vào Nha Trang nhờ người viết đơn đầu thú. Do vậy, hành vi của bị cáo Trần Đ bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố về tội “Giết người” theo Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Nay là Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015) là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, quyền được sống của con người gây đau thương tang tóc cho gia đình nạn nhân, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân do vậy cần xử lý nghiêm để phòng ngừa chung.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[4] Nguyên nhân xuất phát từ tình cảm yêu đương, ghen tuông bị cáo Trần Đ đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm nhiều nhát làm chị Hiền và anh Huấn dẫn đến hậu quả chết người. Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ coi thường tính mạng của người khác, coi thường pháp luật, hậu quả xảy ra làm 02 người chết do đó bị cáo Trần Đ bị xét xử theo điểm a, n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Nay là điểm a,n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015) như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Về hình phạt: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng điểm điểm q khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015) Hội đồng xét xử xét thấy vụ án xảy ra cách ngày khởi tố vụ án đã lâu, hiện trường vụ án xáo trộn do đó bị cáo đã tích cực hợp tác giúp cơ quan điều tra để giải quyết vụ án nhanh chóng vì vậy cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm q khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015) và chấp nhận 1 phần quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo. Tuy nhiên xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng đã xâm phạm đến 02 tính mạng của người khác thể hiện sự coi thường pháp luật, hung hãn mất hết tính người do đó không chấp nhận quan điểm luật sư bào chữa cho bị cáo hưởng mức án chung thân; chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát. Áp dụng Điều 40 Bộ luật Hình sự loại bỏ vĩnh viễn bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Trong vụ án này, theo lời khai của Trần Đ thì sau khi gây án Đạo đã gặp bà Lê Thị Thửa, sinh năm 1954 ở thôn Ao Quán, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng xin thuốc sâu và mượn dao để tự tử. Sau đó Đạo đến nhà ông Nguyễn Đức Chín, sinh năm 1974 ở làng Mai, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng xin ít thuốc diệt chuột để tự tử, ông Chín còn pha nước đường cho Đ uống và cho áo để mặc. Khi gặp bà Thửa và ông Chín, Đạo có nói cho hai người này biết việc vừa giết người. Như vậy, hành vi của bà Thửa và ông Chính có dấu hiệu của tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra bà Thửa và ông Chín khai không biết gì về việc Đạo giết người và cũng không được nghe Đạo nói gì về việc này. Mặt khác, đến nay thời hiệu xử lý về tội đã hết nên không có căn cứ xử lý đối với bà Thửa và ông Chín là đúng quy định pháp luật.

[7] Ngoài ra, Trần Đ còn khai trong thời gian bỏ trốn đã từng nhiều lần xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch, nhưng không nhớ được địa chỉ cũng như căn cước. Tài liệu điều tra không đủ căn cứ xử lý Đạo về hành vi trốn ra nước ngoài trái phép là đúng quy định pháp luật.

[8] Về dân sự: Bị cáo Trần Đ đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại anh Trịnh Văn Huấn về bồi thường chi phí mai táng là 90 triệu đồng và tiền bồi thường về tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật và người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại chị Lê Thị H 90 triệu đồng và tiền bồi thường về tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật và tiền cấp dưỡng cho bà Tý 1.000.000 đồng/tháng.

[9] Hội đồng xét xử xét thấy đối với khoản yêu cầu bồi thường chi phí mai táng của gia đình bị hại anh Trịnh Văn Huấn tuy không còn hóa đơn chứng từ nhưng trên thực tế cần chấp nhận số tiền 90 triệu đồng chi phí mai táng (1); đối với yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần (do lỗi hoàn toàn của bị cáo) nên cần chấp nhận 100 tháng lương cơ sở x 1.490.000 đồng = 149.000.000 (2). Tổng số tiền bị cáo Trần Đ phải bồi thường cho gia đình bị hại anh Trịnh Văn Huấn là 90.000.000 đồng (1) + 149.000.000 đồng (2) = 239.000.000 đồng.

[10] Đối với người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại chị Lê Thị H yêu cầu bồi thường số tiền 90 triệu đồng và tiền bồi thường về tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật và tiền cấp dưỡng cho bà Tý 1.000.000 đồng/tháng. Tuy không còn hóa đơn chứng từ nhưng căn cứ trên thực tế cần chấp nhận số tiền 90 triệu đồng chi phí mai táng (3); đối với yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần (do lỗi hoàn toàn của bị cáo) nên cần chấp nhận 100 tháng lương cơ sở x 1.490.000 đồng = 149.000.000 (4). Đối với yêu cầu cấp dưỡng của bà Tý Hội đồng xét xử xét thấy bà Tý có 06 người con trong đó chị Hiền là con út trong gia đình; sau khi chị Hiền mất đi nghĩa vụ chăm sóc bà Tý là của 05 người con, chị Hiền chỉ có nghĩa vụ 1 phần do đó Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng của bà Tý là 500.000 đồng/tháng từ thời điểm chị Hiền mất đến khi bà Tý qua đời. Tổng số tiền bị cáo Trần Đ phải bồi thường cho gia đình bị hại chị Lê Thị H là 90.000.000 đồng (3) + 149.000.000 đồng (4) = 239.000.000 đồng và hàng tháng phải cấp dưỡng cho bà Trịnh Thị Tý số tiền 500.000 đồng.

[11] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ: 01 đôi dép nhựa màu trắng dép nữ; 02 chiếc dép da màu đen kiểu dép quai; 01 áo sơ mi nam dài tay màu trắng; 01 áo phông ngắn tay màu vàng cổ bẻ; 02 chiếc giầy da đen cao cổ; 01 con dao dài 42cm nắm dao bằng gỗ tròn dài 11cm, lưỡi dao bằng sắt dài 31 cm mũi dao nhọn dạng dao nhọn thuôn dài; 01 vỏ gối đơn có KT (40x60)cm hoa loa kèn màu gạch; một áo sơ mi dài tay đã cũ màu trắng, túi ngực trái có chữ Gtas; một áo sơ mi kẻ sọc trắng đỏ dài tay; một áo sơ mi trắng dài tay kẻ lụa; một đôi dép nhựa trắng xốp cỡ 42; một quần đùi màu ghi xám hai bên sườn có 3 sọc trắng; một con dao dựa dài 42cm bản rộng 5cm nắm gỗ; một dao bài dài 40cm lưỡi bản rộng 3cm nắm gỗ; một con dao bài dài 40cm lưỡi bản rộng 7cm nắm gỗ; không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[12] Đối với 01 đồng hồ Orien SK mặt đỏ đại diện gia đình bị hại anh Trịnh Văn Huấn đề nghị được nhận lại do đó trả lại cho gia đình bị hại anh Trịnh Văn Huấn.

[13] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Nay là điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015); điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Đ: Tử hình về tội “Giết người” Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về dân sự: Buộc bị cáo Trần Đ phải bồi thường cho gia đình bị hại anh Trịnh Văn Huấn, chị Lê Thị H mỗi gia đình số tiền 239.000.000 (Hai trăm ba mươi chín triệu) đồng và hàng tháng bị cáo phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho bà Trịnh Thị Tý 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng/tháng kể từ khi chị Hiền mất ngày 12/9/2003 đến khi bà Tý qua đời.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền bồi thường thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép nhựa màu trắng dép nữ; 02 chiếc dép da màu đen kiểu dép quai; 01 áo sơ mi nam dài tay màu trắng; 01 áo phông ngắn tay màu vàng cổ bẻ; 02 chiếc giầy da đen cao cổ; 01 con dao dài 42cm nắm dao bằng gỗ tròn dài 11cm, lưỡi dao bằng sắt dài 31 cm mũi dao nhọn dạng dao nhọn thuôn dài; 01 vỏ gối đơn có KT (40x60)cm hoa loa kèn màu gạch; một áo sơ mi dài tay đã cũ màu trắng, túi ngực trái có chữ Gtas; một áo sơ mi kẻ sọc trắng đỏ dài tay; một áo sơ mi trắng dài tay kẻ lụa; một đôi dép nhựa trắng xốp cỡ 42; một quần đùi màu ghi xám hai bên sườn có 3 sọc trắng; một con dao dựa dài 42cm bản rộng 5cm nắm gỗ; một dao bài dài 40cm lưỡi bản rộng 3cm nắm gỗ; một con dao bài dài 40cm lưỡi bản rộng 7cm nắm gỗ;

- Trả lại cho đại diện gia đình bị hại anh Trịnh Văn Huấn: 01 đồng hồ Orien SK mặt đỏ.

(Theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng tại Cục Thi hành án dân sự thành ph Hải Phòng ngày 28 tháng 5 năm 2020)

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 23.120.000 (Hai mươi ba triệu một trăm hai mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong thời hạn 07 (Bảy) ngày kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

Bản án tử hình được thi hành nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm người bị kết án không có đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2020/HS-ST ngày 16/06/2020 về tội giết người

Số hiệu:46/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về