Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 30/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 46/2020/HNGĐ-ST NGÀY 30/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON 

Ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 101/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2020 về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thanh L – sinh năm 1991. Có mặt. Địa chỉ: Khu phố 1, phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Hồ Quyết T – sinh năm 1990. Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố 4, phường Bình Tân, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ly hôn, nuôi con ngày 18.3.2020 và lời khai tại Tòa án nhân dân thị xã L, bà Huỳnh Thị Thanh L – nguyên đơn trình bày:

Bà Huỳnh Thị Thanh L trình bày: Bà và ông Hồ Quyết T chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 06/10/2016.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng bà L về sống chung cùng cha mẹ bà L tại khu phố 1, phường Tân Thiện, thị xã L. Vợ chồng bà L sống hạnh phúc đến năm 2018, sau khi sinh con thì vợ chồng bà dọn về nhà cha mẹ ông T ở được 02 tháng thì bà L bồng con về nhà cha mẹ bà ở. Từ đó đến nay giữa bà L và ông T không còn quan tâm, mạnh ai nấy sống. Mâu thuẫn phát sinh do ông T cờ bạc dẫn đến nợ nần, bà L có khuyên ông T nhưng ông không sửa đổi. Bà L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Quyết T.

Về con chung: Có 01 con chung: Hồ Phúc An K (Giới tính: Nam) sinh ngày 08.02.2018, hiện bà L đang nuôi con. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa hôm nay, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn: Ông Hồ Quyết Thắng:

Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng ông T không chấp hành, cũng không nộp ý kiến hay giấy tờ tài liệu nào để lưu hồ sơ giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt không lý do.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng pháp luật.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Thanh L.

- Về con chung: Giao cho bà Huỳnh Thị Thanh L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung: Hồ Phúc An K (Giới tính: Nam) sinh ngày 08.02.2018, - Về cấp dưỡng: Buộc ông Hồ Quyết T phải cấp dưỡng nuôi con: Hồ Phúc An K, sinh ngày 08.02.2018 mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí: Bà Huỳnh Thị Thanh L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn, ông T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Xét yêu cầu ly hôn, nuôi con của bà Huỳnh Thị Thanh L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L.

[2] Về thủ tục: Tòa án đã tiến hành tống đạt, triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Hồ Quyết T vẫn vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về hôn nhân:

Xét yêu cầu ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Thanh L và ông Hồ Quyết T là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống chung, giữa bà L và ông T đã xảy ra mâu thuẫn, ông bà đã hòa giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn lại, giữa ông bà hiện tại đã không còn tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau nên đã không còn sống chung. Tòa án đã tiến hành triệu tập, niêm yết các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng ông T không chấp hành. Qua xác minh thì mâu thuẫn giữa bà L và ông T có xảy ra, gia đình có hòa giải nhưng không có kết quả. Điều đó chứng tỏ giữa bà L và ông T không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc. Xét mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Thanh L là phù hợp, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con của bà L, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cần xem xét đến việc đảm bảo quyền lợi cho con về mọi mặt. Hiện nay bà L đang nuôi con, bà vẫn đảm bảo việc nuôi con tốt. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cho bà Huỳnh Thị Thanh L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung: Hồ Phúc An K (Giới tính: Nam) sinh ngày 08.02.2018 là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về cấp dưỡng: Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà L, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “ Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, nên buộc ông Hồ Quyết T phải cấp dưỡng nuôi con chung: Hồ Phúc An K, sinh ngày 08.02.2018 mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết.

[7] Về án phí: Bà Huỳnh Thị Thanh L là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn, ông Hồ Quyết T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1, 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 262; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, 53, 54, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Thanh L. Bà Huỳnh Thị Thanh L được ly hôn với ông Hồ Quyết T.

2. Về con chung: Giao cho bà Huỳnh Thị Thanh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung: Hồ Phúc An K (Giới tính: Nam) sinh ngày 08.02.2018.

Buộc ông Hồ Quyết T phải cấp dưỡng nuôi con: Hồ Phúc An K (Giới tính: Nam) sinh ngày 08.02.2018 mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Ông Hồ Quyết T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0022742 ngày 11/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L. Bà L đã nộp đủ án phí.

Ông Hồ Quyết T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/9/2020). Riêng bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 30/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:46/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện La Gi - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về