Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 24/07/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 46/2020/HNGĐ-ST NGÀY 24/07/2020 VỀ LY HÔN

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 161/2020/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 09/7/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Tú H, sinh năm 1993 Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1978 Cùng địa chỉ: Tổ 02, ấp Sóc 5, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

(Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin vắng).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2020,bản tự khai ngày 11/3/2020, biên bản hòa giải và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lâm Thị Tú H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Tú H và anh Bùi Văn T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào năm 2007 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh T hay nhậu. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lâm Thị Tú H yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn T.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Bùi Tuấn K, sinh 2007, Bùi Tấn P, sinh ngày 2009, vợ chồng không nhận ai làm con nuôi. Khi ly hôn chị H yêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản trong vụ án này.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ lại vợ chồng.

Ngoài ra, vì lý do công việc chị H yêu cầu Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt.

Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 20/5/2020, các biên bản hòa giải, bị đơn anh Bùi Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với lời khai của chị Lâm Thị Tú H về thời gian đăng ký kết hôn, nơi kết hôn và thời gian chung sống hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do về không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau. Nay chị Lâm Thị Tú H làm đơn ly hôn thì anh Bùi Văn T cũng đồng ý vì vợ chồng không thể đoàn tụ được.

Về con chung: Thống nhất với lời khai của chị Lâm Thị Tú H về con chung. Trong trường hợp tòa án giải quyết ly hôn anh Bùi Văn T đồng ý cho chị Lâm Thị Tú H nuôi 02 con chung, anh Bùi Văn T không cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

Về tài sản: Không yêu cầu tòa án giải quyết trong vụ án.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ lại vợ chồng.

Ngoài ra, vì lý do nhà xa anh T yêu cầu Tòa án giải quyết hòa giải, xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu:

Việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H không có ý kiến gì thêm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định được vợ chồng chị Lâm Thị Tú H, anh Bùi Văn T có mâu thuẫn, không thể hòa giải đoàn tụ nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lâm Thị Tú H đối với anh Bùi Văn T. Về con chung giao 02 con chung cho chị Lâm Thị Tú H nuôi dưỡng, do chị Lâm Thị Tú H không đề cập yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nên đề nghị không xem xét, về tài sản chung không yêu cầu, nợ chung không có nên không xem xét. Án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, Điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn với anh Bùi Văn T có nơi cư trú tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.

Nguyên đơn và bị đơn đều yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh T là đúng quy định của pháp luật.

2]. Nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lâm Thị Tú H, anh Bùi Văn T là hôn nhân hợp pháp, các đương sự có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước. Chị H cho rằng vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không được và và đã sống ly thân. Tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện H đã hòa giải, cũng như cho thời gian, mục đích để vợ chồng đoàn tụ nhưng cả chị H và anh T không có ý chí đoàn tụ. Anh T cũng xác định vợ chồng đã mâu thuẫn và không thể hàn gắn nên đồng ý ly hôn. Như vậy, các bên đã xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị Lâm Thị Tú H chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh Bùi Văn T là có cơ sở.

[3].Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên tên Bùi Tuấn K, sinh 2007, Bùi Tấn P, sinh ngày 2009 hiện tại đang ở cùng với chị H. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi 02 con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, các con chung đều có nguyện vọng muốn ở với chị H và anh T cũng đồng ý cho chị H nuôi 02 con chung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao 02 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với nguyện vọng của con chung và quan điểm của anh T.

Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu cấp dưỡng trong vụ án nên không xem xét.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều trình bày tự thỏa thuận nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nợ chung các đương sự khai không có nên cũng không xem xét giải quyết trong vụ án.

[5]. Về án phí: Chị Lâm Thị Tú H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

[6]. Tại phiên Tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, các đương sự, Hội đồng xét xử và nội dung vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 01 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 238, Điều 266, Khoản 2 Điều 688 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Lâm Thị Tú H được ly hôn với anh Bùi Văn T (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36/KH, quyển số 01/07 ngày 23/11/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T(huyện Bình Long), nay là huyện H, tỉnh Bình Phước).

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Bùi Tuấn K, sinh ngày 13/03/2007 và Bùi Tấn P, sinh ngày 22/2/2009 cho chị Lâm Thị Tú H trực tiếp nuôi dưỡng.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu giải quyết trong vụ án nên không xem xét

4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết trong vụ án nên không xem xét. Nợ chung các đương sự khai không có nên cũng không xem xét giải quyết trong vụ án.

5. Về án phí: Chị Lâm Thị Tú H chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001662 ngày 10/2/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 24/07/2020 về ly hôn

Số hiệu:46/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hớn Quản - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/07/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về