Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 04/12/2020 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 46/2020/HNGĐ-ST NGÀY 04/12/2020 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 04 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2020/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tuyết D - sinh năm 1991; Địa chỉ: thôn M, xã T, huyện A, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Thái N - sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn M, xã T, huyện A, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Tuyết D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Phú Yên chứng nhận ngày 10/3/2009. Sau khi kết hôn anh chị sống tại nhà cha mẹ chị. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Khoảng 03 tháng gần đây giữa anh chị thường xảy ra mâu thuẫn do anh N cờ bạc, xã hội đen đến tìm, gia đình chị phải bán bò, bán đất trả nợ cho anh N nhưng anh N không thay đổi tính cách mà ngày càng chơi cờ bạc hơn. Có lúc anh N đánh chị bị gãy tay tại Bình Phước. Hiện nay, chị và anh N không còn sống chung với nhau. Bản thân thấy không hàn gắn hạnh phúc với anh N được nữa, hôn nhân không đạt được. Yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Trong thời gian hôn nhân anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Thái N1 – sinh ngày 18/3/2008 và Nguyễn Lệ V – sinh ngày 30/10/2011. Con chung hiện đang sống cùng chị, chị có nguyện vọng nuôi con. Chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tuy An đã tiến hành hòa giải, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Nguyễn Thái N nhưng anh N không đến Toà án, không thực hiện nghĩa vụ của đương sự và cố tình vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu. Anh N vắng mặt không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng cơ bản tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết D. Về hôn nhân: chị D được ly hôn với anh N. Về con chung: giao 02 con chung cho chị D chăm sóc, anh N không cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị Tuyết D khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thái N. Bị đơn có hộ khẩu tại huyện A, tỉnh Phú Yên. Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thụ lý vụ án tranh chấp ly hôn và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Thái N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.

Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn bị đơn. Các đương sự có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp. Giữa chị D và anh N xảy ra mâu thuẫn chị D có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: chị D và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã An Thọ, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên chứng nhận ngày 10/3/2009. Đây là hôn nhân hợp pháp, chị D đề nghị Tòa án cho ly hôn vì trong quá trình sống chung, giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh N đánh bạc, nợ nần, gia đình phải bán nhà trả nợ nhưng anh N không sửa đổi. Hiện nay chị và các con đang sống nhờ tại nhà cha mẹ chị, giữa anh chị không tin tưởng lẫn nhau. Hội đồng xét xử thấy giữa chị D và anh N không tìm được tiếng nói chung, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D.

Về con chung: chị D và anh N có 02 con chung tên Nguyễn Thái N1 – sinh ngày 18/3/2008 và Nguyễn Lệ V – sinh ngày 30/10/2011, các con chung hiện đang sống cùng Chị D, tình cảm mẹ con gắn bó. Chị D có nguyện vọng nuôi các con chung. Các cháu N1 và Viên có đơn trình bày nguyện vọng muốn sống cùng mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng của chị D và các con chung. Giao cháu N1 và cháu V cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm con để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: chị Lê Thị Tuyết D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 35, Điều 147; khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

* Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chị Lê Thị Tuyết D được ly hôn với anh Nguyễn Thái N.

* Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Thái N1 – sinh ngày 18/3/2008 và Nguyễn Lệ V – sinh ngày 30/10/2011 cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm con để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

* Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

* Về án phí: chị Lê Thị Tuyết D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng trước tại biên lai thu tiền ký hiệu AA/2019/0004391 ngày 21/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Chị D đã nộp đủ.

* Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

209
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 04/12/2020 về xin ly hôn

Số hiệu:46/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuy An - Phú Yên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 04/12/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về