Bản án 46/2020/DS-ST ngày 30/09/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 46/2020/DS-ST NGÀY 30/09/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 231/2020/TLST–DS ngày 26 tháng 5 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2020/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông Trần Hữu P, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số nhà 01, tổ 01, ấp T, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Cao Văn T, sinh năm 1971; địa chỉ: Ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 18-5-2020 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – ông Trần Hữu P trình bày:

Ông và ông T có quen biết nhau. Vào ngày 19-4-2017 ông cho ông T vay số tiền 10.000.000 đồng, ông T có viết giấy nợ và ký tên, không thỏa thuận lãi, ông T hẹn 02 tháng sau sẽ trả. Đến tháng 6-2017 ông T có trả cho ông tổng cộng số tiền 2.500.000 đồng, còn nợ lại 7.500.000 đồng, ông đòi nhiều lần nhưng ông T hẹn mà không trả. Nay ông yêu cầu ông T trả cho ông số tiền 7.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn, ông Cao Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hữu P, buộc ông T có nghĩa vụ trả cho ông Phước số tiền 7.500.000 đồng; ghi nhận ông T không yêu cầu tính lãi. Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết và tại phiên Toà hôm nay ông T đã được cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các điều 177, 178 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không lý do xem như từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt ông T.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Phước yêu cầu ông T trả số tiền 7.500.000 đồng. Ông Phước cung cấp giấy mượn tiền ngày 19-4-2017 thể hiện nội dung ông T mượn của ông Phước số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn trả là 02 tháng, không có nội dung thỏa thuận tiền lãi, ông Phước xác định giấy mượn tiền do ông T tự viết và ký tên. Do đó, xác định đây là hợp đồng vay tài sản, có kỳ hạn, không có lãi suất. Ông Phước thừa nhận ông T đã trả cho ông số tiền 2.500.000 đồng, còn nợ lại 7.500.000 đồng. Ông T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả của việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 91, Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, căn cứ vào giấy mượn tiền, lời trình bày của ông Phước cho thấy việc ông Phước yêu cầu ông T trả số tiền còn nợ là 7.500.000 đồng là có căn cứ chấp nhận. Ghi nhận ông Phước không yêu cầu tính lãi.

cứ.

[3] Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn [4] Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm khi toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, cụ thể: ông T phải chịu: 7.500.000 đồng x 5% = 375.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019; Khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hữu P đối với ông Cao Văn T về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc ông Cao Văn T có trách nhiệm trả cho ông Trần Hữu P số tiền 7.500.000 (bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.

Ghi nhận ông Phước không yêu cầu tính lãi.

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông T phải chịu 375.000 đồng (ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.

Ông Phước không phải chịu án phí. Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho ông Phước 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004547 ngày 22-5-2020.

4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu và trụ sở xã, phường, thị trấn nơi cư trú.


43
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về