Bản án 46/2020/DSST ngày 21/04/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 46/2020/DSST NGÀY 21/04/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 426/2019/TLST-DS ngày 09/12/2019 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST-DS ngày 06/02/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Đặng Thị Ngọc L, sinh năm 1956 (vắng mặt); Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện ủy quyền: Lê Thị Hồng T, sinh năm 1983 (có mặt);

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1970 (vắng mặt); Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện ủy quyền của Đặng Thị Ngọc L là Lê Thị Hồng T trình bày:

Do quen biết, ngày 20/02/2016, bà L có cho vợ chồng ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị T vay số tiền 120.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 4,5%/tháng, thỏa thuận miệng thời hạn trả nợ là 03 tháng. Bà T, ông C có viết và ký tên vào biên nhận nợ.

Tuy nhiên, từ khi vay tiền của bà L, vợ chồng bà T, ông C không trả được số tiền vốn lãi nào cho bà L. Bà L đã nhiều lần yêu cầu bà T, ông C trả lại số tiền vay nhưng chỉ hứa hẹn mà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Bà Đặng Thị Ngọc L yêu cầu: Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C cùng liên đới trả cho bà L số tiền vay là 120.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 20/02/2016 đến khi Tòa án xét xử, tạm tính đến ngày 20/10/2019 là 42 tháng với số tiền là 120.000.000đồng x 0,83%/tháng x 42 tháng = 41.832.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa:

Đại diện nguyên đơn thay đổi, bổ sung một phần yêu cầu khởi kiện: Bà Đặng Thị Ngọc L yêu cầu bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C cùng liên đới trả cho bà Đặng Thị Ngọc L số tiền vay là 120.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 20/02/2016 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm là 50 tháng thành tiền 49.800.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật;

Bị đơn Nguyễn Thị Thuỷ, Nguyễn Văn C vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Xét quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết; Sự có mặt, vắng mặt của đương sự; Thời hạn, thời hiệu, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc L thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân Sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

Xét trong quá trình thụ lý vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân Sự, bà T, ông C vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân Sự xét xử vắng mặt bà T, ông C.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn thay đổi bổ sung một phần yêu cầu khởi kiện việc thay đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi bổ sung này;

Các đương sự không yêu cầu xem xét về thời hạn, thời hiệu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc L về việc bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay 120.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 20/02/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào lời trình bày và chứng cứ của bà Đặng Thị Ngọc L thì vào ngày 20/02/2016 bà L có cho bà Nguyễn Thị T vay số tiền 120.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 4,5%/tháng, không thoả thuận thời gian trả nợ. Bà T có viết và ký tên vào biên nhận nợ. Từ khi vay tiền, bà T không trả được số tiền vốn lãi nào cho bà L. Bà L đã nhiều lần yêu cầu bà T trả lại số tiền vay nhưng bà T chỉ hứa hẹn mà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ;

Căn cứ vào biên nhận ngày 20/02/2016, bà Đặng Thị Ngọc L có cho bà Nguyễn Thị T vay số tiền 120.000.000 đồng, bà T đã viết biên nhận và ký tên, không thoả thuận về thời gian trả nợ. Trong biên nhận không thể hiện ông Nguyễn Văn C là người vay tiền của bà L, cuối biên nhận có viết chữ C, đại diện nguyên đơn cho rằng là chữ ký của ông C nhưng so với nội dung của biên nhận vay tiền thì không phù hợp. Do đó lời trình bày của đại diện nguyên đơn không có cơ sở;

Đối với yêu cầu về trách nhiệm liên đới của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Xét về quan hệ nhân thân thì bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn C là vợ chồng, trong biên nhận thể hiện mục đích vay để chi dùng cho gia đình thì phải có trách nhiệm liên đới trong nghĩa vụ trả nợ cho bà L;

Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C nhưng bà T, ông C vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của bà L. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì xem như bà T, ông C không có phản đối gì đối với yêu cầu của bà L.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Yêu cầu của bà Đặng Thị Ngọc L là có cơ sở, bởi vì: Bà Nguyễn Thị T vẫn còn nợ bà Đặng Thị Ngọc L số tiền vay là 120.000.000 đồng và chưa trả số tiền trên;

Vì thế Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc L cho nên cần buộc bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đặng Thị Ngọc L số tiền vay 120.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu tính lãi từ ngày 20/02/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm là 50. tháng với lãi suất 0,83%/tháng, thành tiền là 49.800.000 đồng của bà L, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào biên nhận ngày 20/02/2016 thì xác định đây là hợp đồng vay có thoả thuận lãi suất 4,5%/tháng, không thỏa thuận thời gian trả;

Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C nhưng bà T, ông C vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của bà L. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì xem như bà T, ông C không có phản đối gì đối với yêu cầu của bà L.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Yêu cầu của bà Đặng Thị Ngọc L là có cơ sở, bởi vì: Bà Nguyễn Thị T vay bà Đặng Thị Ngọc L số tiền vay là 120.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất trong biên nhận ngày 20/02/2016 là 4,5%/tháng là cao so với quy định của pháp luật. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của bà L chỉ tính lãi với lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp quy định của pháp luật;

Vì thế Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tính lãi của bà Đặng Thị Ngọc L cho nên cần buộc bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đặng Thị Ngọc L số tiền lãi tính từ ngày 20/02/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm là 50 tháng, với lãi suất 0,83% tháng tiền là 49.800.000 đồng.

[3] Xét yêu cầu của bà Đặng Thị Ngọc L về việc bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay 120.000.000 đồng và tiền lãi 49.800.000 đồng, thời gian trả tiền làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy: Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đặng Thị Ngọc L về thời gian trả tiền là có cơ sở, bởi vì bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền cho bà L nên đã xâm phạm đến quyền lợi của bà L. Do đó cần buộc bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ trả số tiền vay là 120.000.000 đồng và tiền lãi 49.800.000 đồng, thời gian trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật;

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Bà L là người cao tuổi thuộc trường hợp không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 463, 465, 466, 357, 468, 688 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các điều 92, 147, 220, 227, 228, 233, 235, 244 Bộ luật Tố tụng Dân Sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án Dân Sự. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc L.

Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đặng Thị Ngọc L số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) và tiền lãi 49.800.000 đồng (bốn mươi chín triệu, tám trăm ngàn đồng);

Thời gian thực hiện trả tiền một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật;

Kể từ ngày bà Đặng Thị Ngọc L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân Sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C phải chịu 8.490.000 đồng (tám triệu, bốn trăm chín mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Đặng Thị Ngọc L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn C vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2020/DSST ngày 21/04/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:46/2020/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Gạo - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/04/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về