Bản án 46/2019/HSST ngày 09/09/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 46/2019/HSST NGÀY 09/09/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 09 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Phan Trọng H (tên gọi khác: Mạnh S), sinh ngày 07 tháng 01 năm 1994, tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 05/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Th và bà Phan Thị C; bị cáo chưa có vợ con; nhân thân: Ngày 29/5/2015, bị TAND TX Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 tháng 29 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 181/2015/HSST; bị bắt tạm giữ từ ngày 09/4/2019. Có mặt.

- Bị hại: Anh Điểu L – sinh năm 2001. Vắng mặt

Địa chỉ: Bon M, xã N , huyện P, tỉnh Đắk Nông.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Điểu N’H – sinh năm 1959. Vắng mặt

Địa chỉ: Bon M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

Bà Phan Thị C – sinh năm 1965. Có mặt

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông

Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

Anh Lường Văn Kh – sinh năm 2000. Vắng mặt

Địa chỉ: Bon M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

Anh Điểu K – sinh năm 1981. Vắng mặt

Địa chỉ: Bon M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

Anh Phan Minh Đ. Vắng mặt

Địa chỉ: KP M, P. N, TX. P, tỉnh Bình Dương

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 11 giờ 00’ ngày 14/6/2018, Phan Trọng H chạy xe mô tô cùng với Điểu L và Lường Văn Kh đến nhà của Điểu K tại bon M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông để chơi rồi cùng nhậu với nhau. Trong quá trình uống rượu, H nói L cho H mượn chiếc xe mô tô hiệu Exciter biển kiểm soát (BKS): 48F1-122.76 để H nhờ Kh điều khiển, còn H điều khiển xe của mình mang về trả cho anh rể, sau khoảng 30 phút sẽ cùng Kh quay lại trả xe cho Điểu L rồi nhậu tiếp. Điểu L đồng ý rồi đưa chìa khóa xe cho H. H đưa chìa khóa để Kh chạy xe của anh L, còn H chạy xe máy của anh rể H về thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông. Sau khi trả xe, H nói với Kh để H điều khiển xe của L đến thôn M, xã N vay tiền. Kh đưa xe cho H rồi ra ngồi phía sau, H chở chạy về hướng thôn M, xã N, huyện P. Khi chạy đến ngã ba Biển Xanh thuộc tổ M, thị trấn M thì trời mưa nên H chạy vào 01 quán cà phê bên đường trú mưa. Khoảng 14 giờ 00’ cùng ngày, H nói Khiêm ngồi chờ, một mình H đi vay tiền, xong việc sẽ quay lại chở Kh vào lại nhà Điểu K. H đến ngã ba thôn M, xã N tìm T (khoảng 28-30 tuổi, hiện chưa rõ nhân thân lại lịch) là người H quen trước đó để vay tiền nhưng không thấy, nên quay lại thị trấn M để đón Kh. Trên đường đi, H nhận được điện thoại của bạn là Nguễn Thành T (không rõ nhân thân lai lịch, là bạn H quen khi làm nghề sửa xe tại thị xã P, tỉnh Bình Dương). T rủ H lên tỉnh Bình Dương chơi thì H đồng ý. Do không có phương tiện đi lại nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của anh Điểu L. H không quay lại đón Lường Văn Kh như đã hứa, không vào nhà Điểu K để trả xe cho Điểu L mà chạy thẳng về tỉnh Bình Dương. Trên đường đi, do không có tiền đổ xăng và chi tiêu nên H vào một tiệm cầm đồ ở thị xã P (không nhớ rõ vị trí, tên tiệm) cầm cố chiếc điện thoại di động của H lấy 500.000 đồng. Sau khi lên thị xã P, tỉnh Bình Dương, H thường xuyên đi chơi với T. Đối với anh Điểu L và Lường Văn Kh, sau khi chờ H đến chở và trả xe nhưng không thấy, những người này liên lạc với H nhưng không được nên sau đó đã trình báo cơ quan công an.

Ngày 01/10/2018, T điều khiển xe mô tô BKS: 48F1-122.76 mà H đã chiếm đoạt của Điểu L, chở H lưu thông trên giao lộ đường Huỳnh Văn L, thuộc khu phố M, phường N, Thành phố P, tỉnh Bình Dương thì xảy ra tai nạn, sau đó Công an Tp.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã tạm giữ chiếc xe này. Riêng Phan Trọng H được điều trị tại Bệnh viện, đến ngày 03/10/2018, bà Phan Thị C (mẹ của H) đã nhận lại xe mô tô BKS: 48F1-122.76. Sau khi điều trị, H về nhà tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông rồi tiếp tục quay lại tỉnh Bình Dương làm việc. Đến ngày 14/02/2019, Điểu L phát hiện H đang ở huyện Đăk Song nên báo cho cơ quan Công an triệu tập làm việc, đồng thời mẹ của H là bà Phan Thị C cũng giao nộp chiếc xe trên cho cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Song.

Tại Biên bản định giá số 06/HD-ĐG và Bản kết luận định giá tài sản ngày 14/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk Song kết luận: giá trị còn lại của chiếc xe mô tô Exciter BKS: 48F1-122.76 tính đến thời điểm ngày 14/6/2018 là 46.750.000 đồng (bốn mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Quá trình điều tra xác định, Phan Trọng H chiếm đoạt xe mô tô Exciter BKS: 48F1-122.76 của anh Điểu L nhằm sử dụng vào mục đích đi lại, nếu không có tiền, H sẽ cầm cố hoặc bán lấy tiền tiêu xài. H biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mặc dù có đủ điều kiện để trả lại xe nhưng cố tình không trả lại; H không quan tâm hoặc nhờ người khác giải quyết. Như vậy, hành vi mượn xe mô tô của người khác sau đó cố tình không trả, bỏ trốn nhằm chiếm đoạt, sử dụng vào mục đích cá nhân của Phan Trọng H có đủ yếu tố cấu thành tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm a khoản 1, điều 175 BLHS.

Ti bản cáo trạng số 44/CTr-VKS ngày 29/7/2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Phan Trọng H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Phan Trọng H từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Điểu L và ông Điểu N’H người đứng tên chủ sở hữu xe không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe moto Yamaha Exciter BKS: 48F1-12276 số khung: 0610HY418709; số máy: G3D4E438621 là chiếc xe Phan Trọng H chiếm đoạt của anh Điểu L. Quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Điểu N’H do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Song đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho ông Điểu N’H, nên cần chấp nhận.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 14/6/2018, Phan Trọng H mượn xe mô tô hiệu Yamaha Exciter BKS 48F-122.76 của anh Điểu L để đi việc cá nhân. Trên đường quay về khi nghe điện thoại của T rủ xuống Bình Dương chơi H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe, H đã điểu khiển chiếc xe chạy về tỉnh Bình Dương sử dụng vào mục đích cá nhân mà không trả lại cho anh Điểu L. Đến ngày 14/02/2019 khi H quay về lại huyện Đăk Song thì bị hại phát hiện báo với cơ quan chức năng triệu tập làm việc. Tại cơ quan điều tra Phan Trọng H đã thừa nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình. Tại thời điểm chiếm đoạt chiếc xe Yamaha Exciter BKS 48F-122.76 của anh Điểu Lương có giá trị 46.750.000đ. HĐXX xét thấy đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Điều 175 Bộ luật hình sự quy định Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.

b) …………

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo có đầy đủ nhận thức và biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt, biết tôn trọng tài sản của người khác và biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Phan Trọng H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, HĐXX nhận thấy cần xem xét các tình tiết trên để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta.

[5] Tình tiết tăng nặng: không

[6] Về hình phạt bổ sung: Qúa trình giải quyết vụ án tài sản đã được trả lại cho chủ sở hữu nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Điểu L và ông Điểu N’H người đứng tên chủ sở hữu xe không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[9] Về vật chứng: Đối với chiếc xe moto Yamaha Exciter BKS: 48F1-12276 số khung: 0610HY418709; số máy: G3D4E438621 là chiếc xe Phan Trọng H chiếm đoạt của anh Điểu L. Quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Điểu N’H do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Song đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho ông Điểu N’H nên cần chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phan Trọng H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

n cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 về phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Phan Trọng H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 09/4/2019 2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 BLHS; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Song trả lại chiếc xe Yamaha Exciter BKS: 48F1-12276 số khung: 0610HY418709; số máy: G3D4E438621 cho ông Điểu N’Hôm là chủ sở hữu hợp pháp.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 về phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Trọng H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm 4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HSST ngày 09/09/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:46/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Song - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về