Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH Đ

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2778/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2018, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/5/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố B.

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Yến N, sinh năm 1993.

Hộ khẩu thường trú: 130/4, tổ 13, khu phố 2, phường Long B, thành phố B, tỉnh Đ.

Địa chỉ liên hệ: 1077, đường Bùi Văn H, Khu phố 7, phường Long B, thành phố B, tỉnh Đ

- Bị đơn: Ông Hà Duy H, sinh năm 1986

Hộ khẩu thường trú: 130/4, tổ 13, khu phố 2, phường Long B, thành phố B, tỉnh Đ.

Địa chỉ liên hệ: 1077, đường Bùi Văn H, Khu phố 7, phường Long B, thành phố B, tỉnh Đ.

(Bà Lê Thị Yến N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Hà Duy H vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 14/01/2019, nguyên đơn bà Lê Thị Yến N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hà Duy H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 03/08/2015 tại UBND xã Tân Tr, huyện Đầm D, tỉnh Cà M và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 61/2015, quyền số 01/2015. Tuy nhiên, quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Cả hai đã cố gắng cải thiện nhưng không có kết quả. Từ cuối năm 2017, ông H nhiều lần có mối quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, bà đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H vẫn không thay đổi. Đến nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà làm đơn xin được ly hôn với ông H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống ông H và bà có 02 con chung là cháu Hà Lê Bảo Ng, sinh ngày 26/02/2016 và cháu Hà Lê Bảo Y, sinh ngày 26/02/2018. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Ng và Y, tạm thời không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà N khai hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn- ông Hà Duy H: đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến làm việc và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không nộp bản tự khai, không có văn bản giải trình và tham gia phiên tòa. Vì vậy, không có lời trình bày.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B:

Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật.

Về việc giải quyết tranh chấp: Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông H.

Về con chung: Giao các cháu Hà Lê Bảo Ng, sinh ngày 26/02/2016 và cháu Hà Lê Bảo Y, sinh ngày 26/02/2018 cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cả trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Do không có lời khai của Hà Duy H nên tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Bà Lê Thị Yến N phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

- Bà Lê Thị Yến N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hà Duy H; Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà Lê Thị Yến N là nguyên đơn, còn ông Hà Duy H là bị đơn trong vụ án.

- Theo biên bản xác minh ngày 10/04/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố B tại Công an phường L, thì hiện nay ông Hà Duy H đang cư trú tại số nhà: 1077, đường Bùi Văn Hòa, Khu phố 7, phường L, thành phố B, tỉnh Đ. Do đó, căn cứ các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ.

- Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Hà Duy H, nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ; hòa giải và tham gia phiên tòa. Ngoài ra, vào ngày 30/05/2019, bà Lê Thị Yến N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đưa ra xét xử vắng mặt bà Nvà ông H.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Bà N và ông Hà Duy H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 03/08/2015 tại UBND xã Tân Tr, huyện Đầm D, tỉnh C và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 61/2015, quyền số 01/2015. Tuy nhiên, theo bà N trình bày quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Cả hai đã cố gắng cải thiện nhưng không có kết quả. Từ cuối năm 2017, ông H nhiều lần có mối quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, bà đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H vẫn không thay đổi. Đến nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà làm đơn xin được ly hôn với ông H.

Xét yêu cầu ly hôn của bà N là có cơ sở chấp nhận vì: Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quý trọng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Nhưng, trong quá trình chung sống; vợ chồng bà N và ông H mặc dù sống chung nhà nhưng vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn rất nghiêm trọng, không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.

Theo Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố B ngày 27/3/2019, tại Khu phố 7, phường L, thành phố B về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng thì được chính quyền địa phương xác nhận về việc giữa hai vợ chồng bà N và ông H thực chất có mâu thuẫn, hiện đã sống ly thân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà N và ông H đã đến mức trầm trọng, tình cảm với nhau không còn, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Lê Thị Yến N được ly hôn với ông Hà Duy H.

[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống ông H và bà có 02 con chung là cháu Hà Lê Bảo Ng, sinh ngày 26/02/2016 và cháu Hà Lê Bảo Y, sinh ngày 26/02/2018. Sau khi ly hôn, bà Nhi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Ng và Y, tạm thời không yêu cầu ông Hạnh phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu này của bà N là chính đáng, bởi lẽ cả hai cháu Ng và Y đều đang còn nhỏ, đang ở chung nhà với ông H và bà N tại địa chỉ 1077, đường Bùi Văn Hòa, Khu phố 7, phường L thành phố B, tỉnh Đ. Hiện nay các cháu vẫn đang do bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trước đó, trong quá trình giải quyết vụ án, bà N có cung cấp cho Tòa án một Hợp đồng lao động giữa bà N với Công ty TNHH TM DV và XD NTV Thành Phát thể hiện mức lương mà bà N được hưởng hàng tháng là 14.000.000đ, để chứng minh về điều kiện nuôi con. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cháu Ng và cháu Yến cho bà N được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng để tạo điều kiện tốt nhất cho các cháu về mặt ổn định tinh thần cũng như học tập sau này. Mặt khác, ông H vẫn đang được đảm bảo quyền thăm nom, chăm sóc con chung.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn, bà N xác định về tài sản chung hai bên tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do ông H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông H, nên sẽ tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

[5] Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Thị Yến N phải nộp 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 266, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 19; Điều 53, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Yến N. Bà Lê Thị Yến N được ly hôn với ông Hà Duy H.

Về con chung: Giao các cháu Hà Lê Bảo Ng, sinh ngày 26/02/2016 và cháu Hà Lê Bảo Y, sinh ngày 26/02/2018 cho bà Nhi trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà N và ông H vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Ông H có quyền thăm nom con; không ai được cản trở thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn, bà N xác định về tài sản chung hai bên tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do ông H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông H, nên sẽ tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Yến N phải nộp 300.000đ án phí, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 009935 ngày 11/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Bà N đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm

Bà Lê Thị Yến N và ông Hà Duy H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về