Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 26/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU – TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/10/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 124/2019/TLST-HNGĐ ngày 14/8/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Lệ H, sinh năm 1992. Có mặt.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Ph Th, xã T Th, huyện QL, tỉnh Nghệ An.

2. Bị đơn: Anh Hồ Ngọc H, sinh năm 1993. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Ph Th, xã T Th, huyện QL, tỉnh Nghệ An.

Hiện nay đang cải tạo tại: Đội 12, phân trại 2, Trại giam Xuân Hà, Bộ Công An, đóng tại xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Trần Lệ Hằng trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Ngọc H kết hôn với nhau ngày 10/7/2012, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T Th. Trong quá trình chung sống vợ chồng luôn xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do không cùng chung tiếng nói, không cùng quan điểm sống, hơn nữa kinh tế khó khăn nên hai người thường cãi vã, mâu thuẫn trầm trọng, mà không thể khắc phục được. Đến tháng 1 năm 2016, chị H và anh H sống ly thân, không hỏi han quan tâm nhau nữa. Trong thời gian ly thân thì anh H có vi phạm pháp luật và hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Từ khi anh H đi cải tạo đến nay, chị cũng không liên lạc với anh, không vào thăm anh lần nào. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Ngọc H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hồ Hoàng Q, sinh ngày 24/12/2012, hiện nay cháu đang ở với ông bà nội. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì chị H có nguyện vọng được nuôi con chung, và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn anh Hồ Ngọc H trình bày:

Anh và chị Trần Lệ H kết hôn với nhau ngày 10/7/2012, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T Th. Vợ chồng chung sống bình thường khoảng một thời gian ngắn thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh không quan tâm đến vợ, nên có nhiều lần vợ chồng va chạm cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng căng thẳng và đã sống ly thân từ cuối năm 2015 đến nay, không hỏi han quan tâm nhau. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh nhất trí ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn.

Về con, vợ chồng có 01 con chung là Hồ Hoàng Q, sinh ngày 24/12/2012. Hiện nay cháu đang ở với ông bà nội. Ly hôn anh cũng nhất trí để chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đi diện VKS phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký đã thực hiện đúng các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành theo giấy báo của Tòa án, bị đơn đang chấp hành án tại Đội 12, phân trại 2, Trại giam Xuân Hà, Bộ Công an, đóng tại xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, nên không thể có mặt tham gia tố tụng cũng như phiên tòa.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Áp dụng vào các Điều 51, khoản 1 điều 56, các điều 58, 81,82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị xử:

- Về tình cảm: Cho chị Trần Lệ H được ly hôn với anh Hồ Ngọc H.

- Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là Hồ Hoàng Q, sinh ngày 24/12/2012 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H vì chị H không yêu cầu. Anh H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản và nợ: Chị H, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên miễn xét.

- Về án phí: Áp dụng Điều 147 BLTTDS 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội khóa 14, nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Lệ H yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung với anh Hồ Ngọc H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hồ Ngọc H đăng ký hộ khẩu tại Thôn Phong Thái, xã Tiến Thủy, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; căn cứ điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Bị đơn anh Hồ Ngọc H hiện đang chấp hành án tại Đội 12, Phân trại 2, Trại giam Xuân Hà, Bộ Công An, đóng tại xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, đã có bản tự khai và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh H là hợp pháp vì tuân thủ các thủ tục, điều kiện kết hôn do luật định. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị H là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, hơn nữa do kinh tế khó khăn, nên vợ chồng hay cãi nhau. Theo anh H mâu thuẫn vợ chồng do anh không quan tâm yêu thương vợ con, nên tỉnh cảm vợ chồng căng thẳng. Tuy hai bên trình bày khác nhau về nguyên nhân mâu thuẫn, nhưng đều thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hai bên đã sống ly thân được 3 năm nay, không hỏi han quan tâm gì nhau, nên việc đoàn tụ là rất khó khăn. Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh H cũng nhất trí, vì tình cảm vợ chồng không còn.

Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị H và anh H tại Uỷ ban nhân dân xã T Th, được biết chị H và anh H kết hôn năm 2012, sau khi kết hôn thì sinh con, sau đó gửi con cho ông bà nội để đi làm ăn và hai người sống ly thân từ đó đến nay. Sau đó anh H phạm tội và đi cải tạo. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chính quyền địa phương không được biết, nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Vì vậy có căn cứ xử cho chị Trần Lệ H được ly hôn anh Hồ Ngọc H là phù hợp với quy định pháp luật.

[2] Về con chung: Chị Trần Lệ H và anh Hồ Ngọc H có 01 con chung là Hồ Hoàng Q, sinh ngày 24/12/2012. Hiện nay cháu đang ở với ông bà nội, phát triển khỏe mạnh bình thường. Tuy nhiên việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm và quyền lợi của bố mẹ, hiện nay anh H đang chấp hành án không thể giao con chung cho anh H nuôi dưỡng; anh H, chị H cũng có nguyện vọng giao con cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy đây là nguyện vọng chính đáng của các bên và phù hợp với quy định pháp luật, do đó cần giao cháu Q cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.

[3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Lệ H và anh Hồ Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Lệ H phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm 300.000đ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81,82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28; khoản 1 điều 40; điều 147; điều 227, điều 228; khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Lệ H được ly hôn với anh Hồ Ngọc H.

2. Về con chung: Giao con chung Hồ Hoàng Q, sinh ngày 24/12/2012 cho chị Trần Lệ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Tm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H vì chị H không yêu cầu.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Lệ H và anh Hồ Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[4] Về án phí: Chị Trần Lệ H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0004188 ngày 13 tháng 8 năm 2019.

[5] Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.


53
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 26/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 26/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về