Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 25/10/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/10/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 25 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét sử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2019/TLST- HNGĐ ngày 09/4/2019 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/9/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2019/QĐST-DS ngày 07/10/2019. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ka H; sinh năm 1994.

Địa chỉ: Số 117 thôn 5A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông K’ T; sinh năm 1988.

Địa chỉ: Số 62 thôn 4, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bà H, ông T vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai, bà Ka H trình bày: Bà và ông T tự nguyện kết hôn năm 2012, đăng ký kết hôn hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tôn trọng lẫn nhau. Từ năm 2016 đến nay đã sống ly thân. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên K’ T, sinh ngày 09/02/2012, hiện đang sống với bà. Khi ly hôn bà xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K’ T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung; Tài sản cho vay chung không có; Tài sản nợ chung, nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện Di Linh số tiền 20.000.000đ. Khi ly hôn mỗi người chịu trách nhiệm trả ½ số nợ trên.

Theo lời khai, ông K’ T trình bày: Công nhận lời trình bày của bà Ka H về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản như trên là đúng. Vợ chồng mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Ka H. Khi ly hôn ông đồng ý giao con chung cho bà Ka H trực tiếp nuôi dưỡng và mỗi người trả ½ số nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện Di Linh.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà H, xử cho bà H được ly hôn ông T; giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; bà H chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa hôm nay, bà Ka H là nguyên đơn và ông K’ T là bị đơn vắng mặt nhưng đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka H và ông K’ T tự nguyện kết hôn năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tôn trọng lẫn nhau. Từ năm 2016 đến nay đã sống ly thân. Cả hai cùng xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, bà Ka Hxin ly hôn, ông K’ T cũng đồng ý ly hôn nhưng không đến Tòa án để hòa giải. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Ka H và ông K’ T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Ka H xin ly hôn. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho bà Ka H được ly hôn ông K’ T là phù hợp.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên K’ T, hiện nay đang sống với bà Ka H. Khi ly hôn, bà Ka H xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K’ T phải cấp dưỡng nuôi con, ông K’ T cũng đồng ý giao con chung cho bà Ka H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét quyền lợi mọi mặt của con và khả năng nuôi dưỡng con của các bên. Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 và 116 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Giao con chung tên K’ T, sinh ngày 09/02/2012 cho bà Ka H trực tiếp nuôi dưỡng, ông K’ T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp.

[4] Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung; Tài sản cho vay chung không có; Tài sản nợ chung, nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện Di Linh số tiền 20.000.000đ. Khi ly hôn mỗi người có trách nhiệm trả ½ số nợ trên. Tuy nhiên, Ngân hàng chính sách xã hội huyện Di Linh đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án nhưng không có yêu cầu gì nên không đề cập giải quyết trong vụ án này là phù hợp.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Ka H phải chịu 300.000đ án phí DSST xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1) Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka H được ly hôn ông K’ T.

2) Về con chung: Giao con chung tên K’ T, sinh ngày 09/02/2012 cho bà Ka H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông K’ T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên. Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

3) Về án phí: Bà Ka H chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0009484 ngày 09/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh (Bà Ka H đã nộp đủ án phí).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 25/10/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Di Linh - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về