Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 24/06/2019 về xin ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ – KIÊN GIANG

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/06/2019 VỀ XIN LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 24 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 97/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2019, về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 (có mặt);

HKTT: Số 656 đường L, khu phố 5, phường A, Tp. R, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Tổ 14 ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn: Anh Trang Văn K, sinh năm 1977 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số 656 đường L, khu phố 5, phường A, Tp. R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 11/02/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Tôi và anh K quen nhau do mai mối, chung sống có tổ chức lễ cưới vào năm 2009, có đăng ký kết hôn và được UBND phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/9/2009.

Nguyên nhân xin ly hôn: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến giữa năm 2016 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân là do mâu thuẩn trong sinh hoạt hằng ngày, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh K thường xuyên nhậu nhẹt về nhà đánh đập tôi, không quan tâm chăm sóc vợ con nên thường xuyên xảy ra cự cãi, bất hòa. Vợ chồng đã sống ly thân từ giữa năm 2016 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị H làm đơn xin ly hôn với anh K.

- Về con chung: Chị H xác định vợ chồng chung sống có 02 người con chung tên Trang Thị Minh T, sinh ngày 27/12/2009 và Trang Bích V, sinh ngày 18/6/2012, hiện nay đang sống với chị H. Chị H yêu cầu nuôi dưỡng 02 người con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị H xác định không có.

* Bị đơn anh Trang Văn K đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án;

thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định xét xử; quyết định hoãn phiên tòa H lệ nhưng anh K không có ý kiến trình bày và vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập H lệ lần thứ hai nhưng bị đơn anh Trang Văn K vẫn vắng mặt không rõ lý do và nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Trang Văn K.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Trang Văn K. Do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Trang Văn K kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán vào năm 2009, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật và được UBND phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/9/2009, nên theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân H pháp.

Nguyên nhân xin ly hôn chị H xác nhận là do mâu thuẩn trong cuộc sống hằng ngày, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh K thường xuyên nhậu nhẹt về nhà đánh đập chị H, không quan tâm chăm sóc vợ con nên thường xuyên xảy ra cự cãi, bất hòa; mặc dù chị H và anh K đã tự hòa giải để đoàn tụ và được hai bên gia đình hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẩn vợ chồng càng trở nên sâu sắc và anh chị đã sống ly thân với nhau từ giữa năm 2016. Nay chị H xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên yêu cầu được ly hôn với anh K. Phía anh K không có ý kiến theo yêu cầu xin ly hôn theo yêu cầu của chị H.

Hội đồng xét xử xét thấy vợ chồng chị H và anh K không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc; thời gian anh chị sống ly thân nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng và tình trạng hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh K.

- Về con chung: Chị H xác định quá trình chung sống có 02 người con chung tên Trang Thị Minh T, sinh ngày 27/12/2009 và Trang Bích V, sinh ngày 18/6/2012, hiện nay đang sống với chị H. Chị H yêu cầu nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay thì cháu Minh T và cháu Bích V sống chung với mẹ là chị H, đồng thời tại biên bản trình bày nguyện vọng ngày 03/4/2019 của cháu Minh T và cháu Bích V có nguyện vọng muốn sống cùng mẹ là chị H khi cha mẹ ly hôn nhau. Nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Minh T và cháu Bích V cho chị H tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Do chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị H xác định không có.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Buộc chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, chị H được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001488 ngày 06/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- p dụng các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- p dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án .

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Trang Văn K.

2/ Về con chung: Giao con chung tên Trang Thị Minh T, sinh ngày 27/12/2009 và Trang Bích V, sinh ngày 18/6/2012 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trang Văn K được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

3/ Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4/ Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị H xác định không có.

5/ Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, chị H được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001488 ngày 06/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang;

nên chị H không phải nộp thêm.

Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt H lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


46
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 24/06/2019 về xin ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về