Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 18/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/06/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh BếnTre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 189/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Chúc L, sinh năm: 1988, địa chỉ: Ấp MT, xã TM, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Đoàn Văn Q, sinh năm: 1989, địa chỉ: Ấp TĐ, xã HM, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 3 năm 2019, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Lê Thị Chúc L trình bày:

Chị và anh Đoàn Văn Q tự nguyện tự nguyện tiến tới hôn nhân, năm 2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HM, huyện M, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới nhau, vợ chồng sinh sống tại ấp MT, xã TM, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc. Thời gian gần đây, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên hay cãi nhau. Chị và anh Q đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành và không còn sống chung với nhau từ ngày 01/4/2019 cho đến nay. Nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị xin được ly hôn với anh Q.

Trong thời gian chung sống, chị và anh Q có một con chung tên Đoàn Lê Tuấn K, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2011. Trong đơn khởi kiện chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị thay đổi yêu cầu khởi kiện đồng ý để anh Q nuôi dưỡng cháu K, chị không cấp dưỡng cho con nhưng sẽ lo cho con theo khả năng của mình.

Chị và anh Q không tranh chấp tài sản chung, không có nợ chung.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn là anh Đoàn Văn Q trình bày:

Anh thống nhất với trình bày của chị L về quá trình tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng cũng có mâu thuẫn và cãi nhau nhưng không trầm trọng. Do còn thương vợ, thương con nên anh không đồng ý ly hôn với chị L, anh muốn chị L cho anh thêm cơ hội để vợ chồng hàn gắn tình cảm.

Anh và chị L có một con chung tên Đoàn Lê Tuấn K, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2011. Nếu phải ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con.

Anh và chị L không tranh chấp tài sản chung, không có nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Kiểm sát viên trình bày ý kiến phát biểu về nội dung và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng dân sự: Chị Lê Thị Chúc L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện M giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị với anh Đoàn Văn Q. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.

Anh Đoàn Văn Q là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Q.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Chúc L và anh Đoàn Văn Q chung sống có đăng ký kết hôn năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã HM, huyện M, tỉnh Bến Tre nên quan hệ hôn nhân của chị L và anh Q được xem là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, chị L cho rằng chị và anh Q mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và hay cãi nhau, chị và anh Q đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành và không còn sống chung với nhau từ đầu tháng 4/2019 cho đến nay, không ai quan tâm gì đến nhau. Anh Q cho rằng giữa anh chị có mâu thuẫn nhưng không trầm trọng, anh muốn chị L cho anh thêm cơ hội để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ nhưng chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị xin ly hôn với anh Q. Tòa án đã thông báo cho anh Q đến để hòa giải, tìm biện pháp hàn gắn đoàn tụ cho anh chị nhưng anh Q không đến.

Như vậy, cho thấy tình trạng hôn nhân của chị L và anh Q không thể hàn gắn được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L để giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

[3] Về con chung: Chị L và anh Q có một con chung tên Đoàn Lê Tuấn K, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2011. Anh Q yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo nguyện vọng của cháu K muốn được sống với anh Q, đồng thời chị L cũng đồng ý để anh Q tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo tâm sinh lý của cháu K được ổn định nên cần giao cháu K cho anh Q tiếp tục nuôi dưỡng. Đối với việc cấp dưỡng cho con do anh Q không có yêu cầu nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh Q khai anh chị không tranh chấp tài sản chung, không có nợ chung nên không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q Hội;

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Chúc L. Chị Lê Thị Chúc L được ly hôn với anh Đoàn Văn Q.

Về con chung: Chị Lê Thị Chúc L và anh Đoàn Văn Q có một con chung tên Đoàn Lê Tuấn K, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2011.

Anh Đoàn Văn Q được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Đoàn Lê Tuấn K.

Ghi nhận anh Đoàn Văn Q không yêu cầu chị Lê Thị Chúc L cấp dưỡng cho con.

Chị Lê Thị Chúc L được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở chị thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con.

Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Chúc L và anh Đoàn Văn Q trình bày không tranh chấp tài sản chung, không có nợ chung nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Chúc L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002324 ngày 15 tháng 3 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M. Chị Lê Thị Chúc L đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


67
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 18/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Nam - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:18/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về