Bản án 46/2017/HNGĐ-ST ngày 10/08/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 46/2017/HNGĐ-ST NGÀY 10/08/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 10 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 54/2017/TLST-HNGĐ ngày 23/03/2017 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 39/2017/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu V-Sinh năm 1991-Địa chỉ: Ô 3, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P - Sinh năm 1991 - Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện D, tỉnh Long An. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 17/03/2017, các văn bản tiếp theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V trình bày và yêu cầu: Bà và ông Nguyễn Văn P cưới nhau vào đầu năm 2014, sau đó đăng ký lại việc kết hôn vào ngày 28/02/2014 (giấy chứng nhận kết hôn số 17/2014, quyển số 01/2014) tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9/2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên gây gỗ với nhau, ông P sống không  trách nhiệm với vợ con, đôi khi có lời lẽ thô tục nói xấu bà, lâu dần dẫn đến mất hạnh phúc gia đình. Bà và ông P đã sống ly thân từ tháng 09/2016 cho đến nay và mối quan hệ vợ chồng chấm dứt.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn P.

Về nuôi con chung: Bà và ông P có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Diễm P1, sinh ngày 02/7/2015, hiện đang sống chung bà V. Khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi con và yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về chia tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P được Tòa án triệu tập họp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn bà V, có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà V. Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 26/6/2017, bà V vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn P, yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Thu V khởi kiện yêu cầu ly hôn ông NguyễnVăn P có hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại ấp H, xã H, huyện D, tỉnh Long An. Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015

[2] Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn P được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông P không có ý kiến cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu V theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông P không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa vì ông đã không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông theo quy định pháp luật.

3] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Nguyễn Văn P vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét đơn khởi kiện của bà V theo khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Về nội dung: Bà V và ông P chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014, có đăng ký kết hôn ngày 28/02/2014 (giấy chứng nhận kết hôn số 17/2014, quyển số 01/2014) tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân của bà V và ông P là quan hệ hôn nhân hợp pháp kể từ ngày đăng ký kết hôn theo :Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 và năm 2014. Quá trình chung sống không hạnh phúc nên bà V và ông P sống ly thân với nhau từ tháng 02/2017 đến nay.

[5] Xét việc bà V yêu cầu ly hôn với ông P. Xét thấy bà V và ông P có mâu thuẫn vợ chồng xảy ra từ tháng 9/2016 là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, ông P xúc phạm vợ con, gây gỗ thường xuyên dẫn đến mất hạnh phúc gia đình không sống chung với nhau được phải sống ly thân từ tháng 9/2016 cho đến nay và mối quan hệ vợ chồng chấm dứt, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng bà V và ông P đã trầm trọng cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận theo yêu cầu ly hôn của bà V đối với ông P là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

[6] Về yêu cầu nuôi con chung: Cháu Nguyễn Ngọc Diễm P1, sinh ngày 02/7/2015, hiện đang sống chung bà V. Khi ly hôn, bà V có yêu cầu trực tiếp nuôi con chung là phù hợp và yêu cầu ông P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là quá cao so với thực tế tại địa phương, bà V không chứng minh được thu nhập của ông P nên chỉ chấp nhận việc ông P phải nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 650.000 đồng (½ mức lương cơ bản) cho đến khi co chung đủ 18 tuổi là phù hợp Điều 81 và 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

[7] Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà V cho rằng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông P cũng không có văn bản trình bày về việc có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miển, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án xét thấy: Bà V là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Ông P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu  300.000 đồng án phí vế cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu V được ly hôn với ông Nguyễn Văn P.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Diễm P1, sinh ngày02/7/2015, hiện đang sống chung bà V cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cháu Diễm P1 mỗi tháng 650.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

Ông P được quyền tới lui, thăm nom và chăm sóc con chung. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, ông P và bà V có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu V và ông Nguyên Văn P mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm Bà V được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Anh đã nộp (biên lai thu số 0007836 ngày 23/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà V đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


118
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2017/HNGĐ-ST ngày 10/08/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:46/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Huệ - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:10/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về