Bản án 460/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị Ch với anh H 

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 460/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/09/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON GIỮA CHỊ CH VỚI ANH H 

Ngày 23 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 581/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về “Ly hôn, về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Ch, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Ấp PH, xã TH, huyện T, tỉnh Kiên Giang (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Phạm Thanh H, sinh năm 1988, địa chỉ cư trú: Số 69/3, ấp MT, xã MP, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 22/10/2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Huỳnh Thị Ch trình bày:

Vợ chồng anh chị quen biết và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MP, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 15/11/2013. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng dần về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không hạnh phúc, vợ chồng đã thân khoảng 02 năm. Nay tình cảm không còn xin được ly hôn.

2. Về con chung: Có 01 con chung Phạm Ngọc Phương V, sinh ngày 19/10/2017. Hiện cháu đang sống với chị Ch. Chị Ch yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh H để ghi nhận ý kiến nhưng anh H vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Vụ án đã quá thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng Chánh án chưa ban hành quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, kiến nghị để khắc phục. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do, không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị Ch ly hôn với anh H; giao con chung Phạm Ngọc Phương V, sinh ngày 19/10/2017 cho chị Ch trực tiếp nuôi dưỡng; anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ch không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung không có nên đề nghị không xem xét.

Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm: Bản photo chứng minh nhân dân; Sổ hộ khẩu; Bản sao giấy khai sinh cháu V; Giấy chứng nhận kết hôn; Biên bản xác minh tình trạng cư trú của bị đơn và tình trạng hôn nhân; Công văn số: 1832/QLXNC-DD1 ngày 12/9/2019 của Phòng quản lý xuấn nhập cảnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự về việc ly hôn, bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn huyện C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Ch và anh H đã tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MP, huyện C, tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 182, ngày 15/11/2013. Do đó, hôn nhân giữa chị Ch và anh H là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp nên đã sống ly thân hơn 02 năm. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh H vắng mặt, cho thấy anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị Ch và anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Ch yêu cầu giải quyết cho ly hôn với anh H là có cơ sở. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ch đối với anh H.

[2.2] Về con chung:

Chị Ch và anh H có 01 con chung tên Phạm Ngọc Phương V, sinh ngày 19/10/2017, hiện cháu V đang do chị Ch chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Ch yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Xét, từ khi vợ chồng ly thân đến nay, chị Ch là người trực tiếp nuôi con, anh H không cùng chị Ch trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đối với con chung. Để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của con, tạo điều kiện cho cháu V được ổn định về tâm lý, chỗ ở, sinh hoạt và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu V cho chị Ch trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.3] Về cấp dưỡng cho con: Chị Ch không có yêu cầu anh H cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Ch phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Ch đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Huỳnh Thị Ch ly hôn với anh Phạm Thanh H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 182, ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã MP, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Ngọc Phương V, sinh ngày 19/10/2017 cho chị Huỳnh Thị Ch trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Phạm Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng cho con: Chị Ch không yêu cầu anh H cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Ch phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Ch đã nộp theo biên lai thu số: 0010255 ngày 04 tháng 12 năm 2019 của Ch cục Thi hành án dân sự huyện C.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

224
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 460/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị Ch với anh H 

Số hiệu:460/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Phú - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 23/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về