Bản án 453/2019/HNGĐ-ST ngày 02/05/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 453/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 02 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 585/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1873/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Xuân M, sinh năm 1984;

Đa chỉ: Đường M, Phường N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Lý T (Ly T), sinh năm 1955. Quốc tịch: Canada.

Đa chỉ: Canada. (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 30/11/2017, bản tự khai ngày 16/3/2018 nguyên đơn bà Lâm Thị Xuân M trình bày:

Bà và ông Lý T (Ly T) tự nguyện kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 32 do Ủy ban nhân dân Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/3/2017. Đến tháng 8/2017 ông Lý T (Ly T) trở về lại Canada còn bà vẫn sống ở Việt Nam. Khi về Canada, ông Lý T (Ly T) có hứa làm hồ sơ để bảo lãnh bà sang Canada để vợ chồng đoàn tụ nhưng sau đó ông Lý T (Ly T) không bảo lãnh bà sang Canada được vì không đủ khả năng tài chính. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn yêu cầu ly hôn với ông Lý T (Ly T) để có điều kiện ổn định cuộc sống.

Con chung: Bà Lâm Thị Xuân M khai không có.

Tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Xuân M khai không có.

Ngày 11 tháng 4 năm 2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có công văn số 215/UTTPDS - TA30 về thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp gửi Bộ Tư pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền Canada thông báo việc thụ lý vụ án, tiến hành lấy lời khai và thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 15 tháng 11 năm 2018, lần thứ hai vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 17 tháng 12 năm 2018 và xét xử công khai lần thứ nhất vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 18 tháng 01 năm 2019; lần thứ hai vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 20 tháng 02 năm 2019 đối với ông Lý T (Ly T).

Ngày 18/5/2018, Bộ Tư pháp đã có công văn số 123/CH-BTP về việc thực hiện ủy thác tư pháp theo đó, đề nghị Bộ Tư pháp bang Saskatchewan, Canada thực hiện ủy thác tư pháp đối với ông Lý T (Ly T).

Ngày 18/01/2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có công văn số 53/TATP-TGĐVNCTN gửi Bộ Tư pháp đề nghị thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với ông Lý T (Ly T).

Ti phiên tòa sơ thẩm:

Ngày 24/5/2019, nguyên đơn bà Lâm Thị Xuân M có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án, hòa giải và xét xử vì lý do bận công tác xa.

Bị đơn ông Lý T (Ly T) đã được Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ủy thác tư pháp để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông Lý T (Ly T) không có văn bản trả lời và vắng mặt không lý do.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán chủ tọa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Nguyên tắc xét xử, thành phần hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên trong hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa; Phạm vi xét xử sơ thẩm” tại phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Lâm Thị Xuân M được ly hôn với ông Lý T (Ly T).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu của nguyên đơn thuộc tranh chấp về ly hôn, bị đơn ông Lý T (Ly T) đang cư trú hợp pháp tại Canada thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về vắng mặt đương sự: Xét bà Lâm Thị Xuân M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Ông Lý T (Ly T) đã được Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ủy thác tư pháp thông báo thời gian xét xử nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Lý T (Ly T), bà M theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của bà Lâm Thị Xuân M, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 32 do Ủy ban nhân dân Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/3/2017 có đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Thị Xuân M và ông Lý T (Ly T)là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, theo lời khai của bà M đến tháng 8/2017 ông Lý T (Ly T) trở về lại Canada còn bà vẫn sống ở Việt Nam. Khi về Canada, ông Lý T (Ly T) có hứa làm hồ sơ để bảo lãnh bà sang Canada để vợ chồng đoàn tụ nhưng sau đó ông Lý T (Ly T) không bảo lãnh bà sang Canada được vì không đủ khả năng tài chính và vợ chồng bà sống ly thân từ đó cho đến nay. Tòa án cũng đã thực hiện ủy thác tư pháp gửi Bộ Tư pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Canada tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thời gian hòa giải, xét xử cho ông Lý T nhưng vẫn không được ông Lý T (Ly T) trả lời hay có ý kiến gì về quan hệ hôn nhân của ông và bà M. Xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau san sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; nghĩa vụ sống cùng với nhau trong khi hai vợ chồng bà M và ông Lý T (Ly T) mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng càng không có điều kiện vun đắp nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bà Lâm Thị Xuân M được ly hôn với ông Lý T (Ly T).

Con chung: Bà Lâm Thị Xuân M khai không có.

Tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Xuân M khai không có. [3] Án phí, chi phí tố tụng khác:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Lâm Thị Xuân M phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016;

các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 273; Điều 464; điểm d Khoản 1, Khoản 2 Điều 469, điểm c Khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 53, Điều 54, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị Xuân M.

Quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Xuân M được ly hôn với ông Lý T (Ly T).

Giy chứng nhận kết hôn số 32 do Ủy ban nhân dân Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/3/2017 cho bà Lâm Thị Xuân M và ông Lý T (Ly T) không còn giá trị pháp lý.

Con chung: Không có.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

2/ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lâm Thị Xuân M phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0048374 ngày 13/12/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Án xử sơ thẩm, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bà Lâm Thị Xuân M nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với ông Lý T (Ly T) thời hạn kháng cáo bản án là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 453/2019/HNGĐ-ST ngày 02/05/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:453/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:02/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về