Bản án 45/2020/HS-ST ngày 20/11/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 45/2020/HS-ST NGÀY 20/11/2020 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 20 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2020/HSST ngày 30/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2020/QĐXXST- HS ngày 05/11/2020 đối với các bị cáo:

* Họ và tên: Phạm Văn B, sinh ngày: 23/01/1998, tại xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn Tân Vĩnh C, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Phạm Văn D, sinh năm 1969 và bà Dương Thị H, sinh năm 1971, trú tại: xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án sơ thẩm số 20/2016/HSST, ngày 20/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt Phạm Văn B 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 20/5/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Họ và tên: Phạm Văn T, sinh ngày: 12/11/1998, tại xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn Bộc N, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Phạm Văn H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị , sinh năm 1975, trú tại xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/5/2020 đến ngày 20/5/2020 chuyển tạm giam tại Trại tam giam Công an tỉnh Hà Tĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trần Đăng A, sinh năm 1998; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Thôn 2, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

- Bà Dương Thị H, sinh năm 1971; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trú tại:

Thôn Tân Vĩnh C, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).

* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Trọng D, sinh năm 1974; Trú tại: Thôn Đông Hạ, xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 10 giờ 30 phút, ngày 17/5/2020, tại địa phận thôn Đông H, xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, Công an huyện Cẩm Xuyên bắt quả tang Phạm Văn T tàng trữ 01 gói ni lông chứa chất tinh thể màu trắng cất dấu trong túi quần, T khai nhận đó là ma túy đá, do Phạm Văn B đưa để đi bán cho một người đàn ông tên là B (Lẻn), không rõ nhân thân, lý lịch ở T phố Hà Tĩnh. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày Phạm Văn B đến Công an huyện Cẩm Xuyên đầu thú và khai nhận hành vi đưa ma túy cho Phạm Văn T đi bán.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của Phạm Văn T và Phạm Văn B thuê trọ ở thôn 5, xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên và khám xét khẩn cấp nhà ở của Phạm Văn B, ở thôn Tân Vĩnh Cần, xã Cẩm T, huyện Cẩm Xuyên. Kết quả không thu giữ được các tài liệu, đồ vật gì liên quan đến ma túy.

Quá trình điều tra Phạm Văn B, Phạm Văn T khai nhận: Các bị cáo là người nghiện ma túy, đầu tháng 5/2020 B thuê phòng trọ tại thôn 5, xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên để ở và sử dụng ma túy. Trong thời gian này, B mua của một người đàn ông tên là P (Không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ở T phố Hà Tĩnh một gói ma túy, với giá 3.000.000 đồng đưa về phòng trọ để sử dụng và nếu có ai mua thì bán lại kiếm lời. Vào tối ngày 16/5/2020, B, T và Trần Đăng A đi chơi về ngủ tại phòng trọ. Đến khoảng 01 giờ ngày 17/5/2020, cả 3 người cùng sử dụng ma túy. Khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, B nhận được điện thoại B (Lẻn), sử dụng Zalo gọi hỏi mua 300.000 đồng ma túy, B đồng ý. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, B lấy gói ma túy chia ra một phần để bán cho Bá, phần còn lại cất dấu vào túi quần và lấy điện thoại di lắp sim số 0762.371.194 của T gọi vào số thuê bao 0819.659.159 cho Bá hỏi đang ở đâu, thanh toán tiền mặt hay chuyển khoản thì Bá trả lời giao ma túy ở Cầu C, xã Cẩm Vịnh, còn tiền sẽ chuyển khoản, B nhắn tin số tài khoản của mình cho B. Tiếp đó B đưa gói ma túy và điện thoại lại cho T rồi nói liên hệ với Bá để giao ma túy. Khi T chuẩn bị đi giao ma túy, thì B gọi vào số của T nói, B chuyển khoản mua thêm 200.000 đồng ma túy nữa để mua đủ 500.000 nghìn, T nói lại với B và đưa lại gói ma túy cho B. B bỏ thêm ma túy vào rồi đưa cho T đưa đi bán cho Bá, số còn lại cất để sử dụng. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream II, biển kiểm soát 38P1-090... đến địa phận thôn Đông Hạ, xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên để giao cho B thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Sau khi biết T bị bắt, B đã lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại phòng trọ đập vỡ và đốt cháy cùng với số ma túy còn lại cho vào bồn cầu nhà vệ sinh xã nước tiêu hủy.

Tại bản kết luận giám định số 102/GĐMT-PC09 ngày 19/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 gói ni lông trong suốt hình chữ nhật có kích thước (1,2x1,5)cm, ký hiệu M thu giữ của Phạm Văn T có khối lượng 0,1819 gam là Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh Mục II.C, STT 323, Nghị định số 73, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream II, BKS 38P1-090... Phạm Văn T dùng làm phương tiện phạm tội, chủ sở hữu là chị Dương Thị Hoàn (mẹ đẻ của Phạm Văn B).

Trong quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã trưng cầu xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Phạm Văn T và Phạm Văn B. Tại Phiếu trả lời kết quả số 270 ngày 17/5/2020 và Phiếu không số, ngày 19/5/2020 của Trung tâm chữa bệnh, giáo dục lao động thuộc Sở lao động thương binh và xã hội Hà Tĩnh xác định Phạm Văn T và Phạm Văn B đều dương tính với chất ma túy đá (Methamphetamine).

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã thu giữ:

- 01 gói ni lông trong suốt, hình chữ nhật kích thước (1,2x1,5) cm bên trong chứa 0,1819 gam là chất ma túy Methamphetamine; sau khi đã trừ mẫu giám định không hoàn lại, còn 0,1687 gam.

- 01 điện thoại di động URBANO, bên trong gắn sim số: 0762371194, đã qua sử dụng, thu của Phạm Văn T.

- 01 điện thoại di động OPPO F9, bên trong gắn sim số: 0966045043, đã qua sử dụng, thu của Phạm Văn B.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream II, BKS 38P1-090..., mang tên Dương Thị H, thu của Phạm Văn T. Đã trả lại cho chủ sở hữu Dương Thị H.

Vật chứng không thu giữ được: Trong thời gian giao dịch, đối tượng Bá (Lẻn) đã chuyển khoản 02 lần vào số tài khoản 0201000726745 của Phạm Văn B để mua ma túy với số tiền 500.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, cùng trong ngày B đã chuyển tiền nạp vào tài khoản để chơi Game hết nên không thu giữ được.

Với hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSCX ngày 29/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên truy tố Phạm Văn B và Phạm Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 BLHS đối với các bị cáo;

áp dụng thêm Khoản 2 Điều 51 BLHS đối với Phạm Văn B. Xử phạt bị cáo Phạm Văn B mức án từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam; xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ.

- Về biện pháp tư pháp: Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đồng thu lợi bất chính từ bị cáo Phạm Văn B.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước điện thoại thu giữ của các bị cáo; Tịch thu tiêu hủy các sim điện thoại và toàn bộ số ma túy đã thu giữ.

Ngoài ra, còn buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là khách quan, phù hợp với Cáo trạng truy tố, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 17/5/2020, tại địa phận thôn Đông H, xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên phát hiện, bắt quả tang Phạm Văn T đang tàng trữ trái phép 0,1819 gam là Methamphetamine trong trong túi quần. T khai nhận số ma túy này là của Phạm Văn B đưa cho T đi bán cho cho một nam thanh niên tên là B (Lẻn) ở T phố Hà Tĩnh, không rõ nhân thân, lý lịch. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày Phạm Văn B đến Công an huyện Cẩm Xuyên đầu thú và khai nhận hành vi đưa ma túy cho Phạm Văn T đi bán cho người đàn ông tên là B (Lẻn) trước đó đã liên hệ.

Hành vi trên của Phạm Văn B và Phạm Văn T đã cấu T tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, việc tuy tố, xét xử các bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền các chất ma tuý của Nhà nước. Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy, sự nghiêm cấm của Nhà nước đối với hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Chỉ vì hám lợi, các bị cáo đã mua ma tuý về sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm minh tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa.

Trong vụ án này Phạm Văn B là người mua ma túy để sử dụng và khởi xướng việc bán ma túy, hưởng lợi số tiền từ việc bán ma túy; bị cáo Phạm Văn T là đồng phạm với vai trò thực hành trong việc đi bán ma túy cho B.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo T khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS; Bị cáo Phạm Văn B được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Đầu thú”, có ông nội và ông ngoại là người có công với cách mạng, ông nội là thương binh, ông ngoại là liệt sỹ, quy định Khoản 2 Điều 51 của BLHS. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình cần xem xét cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo như ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Về biện pháp tư pháp: Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đồng thu lợi bất chính từ bị cáo Phạm Văn B có được do bán ma túy mà có.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với điện thoại thu của các bị cáo, đây là vật chứng liên quan đến việc các bị cáo sử dụng khi phạm tội nên phải tịch thu bán sung quỹ Nhà nước; tịch thu tiêu hủy các sim điện thoại và toàn bộ số ma túy đã thu giữ.

[8] Trong quá trình điều tra Phạm Văn B và Phạm Văn T khai nhận: Vào một buổi tối không nhớ cụ thể ngày, trước thời điểm bị bắt khoảng 01 tuần, T đi cùng với B, sau đó B có bán ma túy cho đối tượng B (Lẻn) tại địa phận thôn Đông H, xã Cẩm V, huyện Cẩm Xuyên. Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ của đối tượng mua tên là B (Lẻn), không thu giữ được vật chứng, T không nhìn rõ thấy đặc điểm gói ma túy này. Vì vậy, chưa đủ căn cứ để xử lý các bị cáo về hành vi này.

Đi với người đàn ông tên Phúc, Phạm Văn B khai là người đã bán ma túy cho B. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch của đối tượng nên không có căn cứ để xử lý.

Đi với người đàn ông tên B (Lẻn), là người mà Phạm Văn B khai nhận đã liên lạc để mua ma túy, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch của đối tượng nên không có căn cứ để xử lý.

Đi với chị Dương Thị H, chủ sở hữu của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38P1-090... mà Phạm Văn T sử dụng làm phương tiện khi phạm tội. Quá trình điều tra xác định việc T dùng xe mô tô khi thực hiện hành vi phạm tội chị H không biết nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đi với Trần Đăng A có mặt tại phòng trọ khi Phạm Văn B và Phạm Văn T đưa ma túy đi bán. Quá trình điều tra xác định tại thời đó A đang ngủ, không biết, nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn B và Phạm Văn T; áp dụng thêm Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn B.

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B và Phạm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Văn B 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 20/5/2020.

- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 26 (Hai sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ từ ngày 17/5/2020.

2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính từ bị cáo Phạm Văn B.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước:

+ 01 (Một) điện thoại di động URBANO màu xanh, số Imei: 355870061506942, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu của Phạm Văn T.

+ 01 (Một) điện thoại di động OPPO F9, màu xanh đen, số Imei 1: 860163044388713, số Imei 2: 860163044388705, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu của Phạm Văn B.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) sim số: 0762371194, thu của Phạm Văn T; 01 (Một) sim số 0966045043, thu của Phạm Văn B.

+ 01 (Một) phong bì thư đã niêm phong, bên trong phong bì thư có chứa 0,1687 gam (Không phẩy một sáu tám bảy gam) chất tinh thể màu trắng, là ma túy (Methamphetamine) sau khi đã lấy mẫu giám định cùng toàn bộ vỏ, bao gói.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên).

4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội. Buộc Phạm Văn B, Phạm Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


2
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2020/HS-ST ngày 20/11/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:45/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về