Bản án 45/2019/HS-ST ngày 26/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 45/2019/HS-ST NGÀY 26/04/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Kim Th, sinh ngày 07 tháng 5 năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có; Nơi cư trú: phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Kim H (chết) và bà Bùi Thị Ánh H, sinh năm 1966; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 31/8/2016, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện thời gian 24 tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 13/5/2018; Nhân thân: Ngày 17/12/2007, Ủy ban nhân dân phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định giáo dục tại xã phường thời gian 06 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 16/9/2008, bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong ngày  28/12/2010; Ngày 15/01/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện thời gian 18 tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 07/6/2016; Bị tạm giam từ ngày 18/12/2018 và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Thành V, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: phường Tăng Nhơn Phú B, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 18/12/2018, đối tượng tên S (chưa rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Bùi Kim Th đi từ khu vực phường Phước Long B, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh về quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi ngang qua nhà trọ số 29, Đường 6, Khu phố 3, phường Tăng Nhơn Phú B, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, S phát hiện xe mô tô biển số 76H1-339.55 của anh Nguyễn Thành V dựng trước phòng trọ số 6 của dãy nhà trọ nên rủ Th vào trộm cắp xe. S dừng xe đứng ngoài chờ và đưa cho Th 01 cây kềm, 01 cây kéo để cắt dây điện của xe mô tô. Th lén lút vào mở cổng đi vào dãy nhà trọ, dùng dây nhôm buộc cửa phòng trọ số 6, rồi dùng kềm cắt dây điện xe mô tô biển số 76H1-339.55 dẫn ra cổng thì bị tổ hình sự đặc nhiệm Công an Quận 9 phát hiện bắt quả tang. Riêng S đã tẩu thoát trước khi bị phát hiện.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Bùi Kim Th đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô hiệu Honda Winer biển số 76H1-339.55, màu đỏ đen. Theo Kết luận định giá tài sản số 41-2019/KL-ĐGTS ngày 23/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 9: Xe có giá trị còn lại là 38.650.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9 đã trả lại cho bị hại;

- 01 đoạn dây nhôm màu trắng dài 30cm;

- 01 đôi dép màu đen hiệu Adidas;

- 01 cây kéo kẹp màu trắng dài 15cm;

- 01 cây kềm bằng kim loại có vỏ nhựa màu đỏ dài 15cm.

Riêng đối tượng S, qua điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 04 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Bùi Kim Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Kim Th về tội trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên gây ra thiệt hại không lớn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Kim Th từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 đoạn dây nhôm màu trắng dài 30cm, 01 đôi dép màu đen hiệu Adidas, 01 cây kéo kẹp màu trắng dài 15cm và 01 cây kềm bằng kim loại có vỏ nhựa màu đỏ dài 15cm.

- Bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 9, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Bùi Kim Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thực nghiệm điều tra; Biên bản ghi lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9; Bản tự khai của bị cáo; Lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng; Tang vật thu giữ; Kết luận định giá tài sản và các tang vật, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở xác định, vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 18/12/2018, tại trước phòng số 6, nhà số 29, Đường 6, Khu phố 3, phường Tăng Nhơn Phú B, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, Bùi Kim Th đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô hiệu Honda Winer biển số 76H1-339.55, màu đỏ đen, trị giá 38.650.000 đồng của anh Nguyễn Thành V, nên hành vi của Bùi Kim Th đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 đối với bị cáo Bùi Kim Th là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra. Bản thân bị cáo đã từng bị xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; hơn nữa, ngày 16/9/2008, bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Điều đó chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật nên cần phải có hình phạt nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn. Do đó, cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Riêng đối tượng S, qua điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 đoạn dây nhôm màu trắng dài 30cm, 01 đôi dép màu đen hiệu Adidas, 01 cây kéo kẹp màu trắng dài 15cm và 01 cây kềm bằng kim loại có vỏ nhựa màu đỏ dài 15cm là công cụ Th dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo Bùi Kim Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Kim Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Bùi Kim Th 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2018.

3. Tịch thu, tiêu hủy: 01 đoạn dây nhôm màu trắng dài 30cm, 01 đôi dép màu đen hiệu Adidas, 01 cây kéo kẹp màu trắng dài 15cm và 01 cây kềm bằng kim loại có vỏ nhựa màu đỏ dài 15cm (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 21/19 ngày 26/02/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Buộc bị cáo Bùi Kim Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2019/HS-ST ngày 26/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:45/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 9 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về