Bản án 45/2019/HNGĐ-ST ngày 17/06/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 45/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/06/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 17 tháng 6 năm 2019 tại hội trường Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 363/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXX-ST ngày 06 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hà Thị O, sinh năm 1975

Địa chỉ: Tổ 22, phường GS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa)

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Tr, sinh năm 1966

Địa chỉ: Tổ 22, phường GS,thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

Hiện đang cải tạo tại phân trại 2, trại giam Hoàng Tiến, tổng cục 10 - Bộ công an. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hà Thị O trình bày: Bà và ông Nguyễn Thanh Tr đăng ký kết hôn với nhau vào năm 1996 tại UBND xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc gì. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian sau đó bà phát hiện ông Tr nghiện ma túy, bà cũng đã khuyên can ông Tr nhiều lần nhưng ông Tr không bỏ đươc ma túy, thường xuyên lấy tiền của bà để mua ma túy về sử dụng sau đó đánh đập bà vì vậy vợ chồng thường xuyên xung đột cãi vã nhau, không có tiếng nói chung. Hiện nay ông Tr đang đi cải tạo tại trại giam Hoàng Tiến, Chí Linh, Hải Dương bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị được ly hôn với ông Tr để giải phóng cho nhau.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng bà có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh B, sinh ngày 30/5/1997 hiện con đã trưởng thành và đã có gia đình riêng nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Ông bà tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà O nhận nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Phía bị đơn ông Nguyễn Thanh Tr tại bản tự khai đã xác định: Ông và bà Hà Thị O đăng ký kết hôn với nhau vào năm 1996 tại UBND xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, trên cơ sở tự nguyện và được tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, quá trình chung sống vợ chồng cũng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống do ông nghiện ma túy. Nhưng hiện nay ông đang đi chấp hành án tại trại giam Hoàng Tiến, Chí Linh, Hải Dương nên ông cũng muốn suy nghĩ thêm, tuy nhiên nếu bà O ông cương quyết xin ly hôn đối với ông cũng nhất trí. Ngoài ra ông Tr cũng có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và tiến hành xét xử vắng mặt ông vì hiện ông đang đi cải tạo nên không thế tham gia tố tụng được.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã làm các thủ tục tống đạt hợp lệ cho ông Tr, tuy nhiên ông Tr có đơn đề nghị không hòa giải và tiến hành xét xử vắng mặt ông, vì vậy vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.

Tại phiên tòa bà O xác định tình cảm vợ chồng không còn, cương quyết xin ly hôn đối với ông Tr.

Kết thúc phần hỏi, vị đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như:

Xác định đúng thẩm quyền và quan hệ tranh chấp; Thực hiện các hoạt động tố tụng và thời hạn mở phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa xét xử sơ thẩm.

-Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Luật phí và lệ phí số 97/2015 quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị O, cho bà O được ly hôn với ông Nguyễn Thanh Tr. Về án phí bà O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Bà Hà Thị O và ông Nguyễn Thanh Tr kết hôn với nhau vào năm 1996, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc gì nên được pháp luật thừa nhận là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân bà O xin ly hôn là do ông Tr nghiện ma túy nhiều năm nay vì vậy vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Hiện nay ông Tr đang đi cải tạo tại trại giam Hoàng Tiến, Chí Linh Hải Dương nên tình cảm vợ chồng không còn. Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa bà O và ông Tr đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà O là phù hợp với thực tế và quy định tại các Điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Điều 51, 56 Luât Hôn nhân và gia đình quy định:

Điều 51: Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1.Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Điều 56: Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh B, sinh ngày 30/5/1997 ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, tuy nhiện hiện nay con chung đã trưởng thành nên Tòa án cũng không giải quyết.

Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: Bà O phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hà Thị O, cho bà Hà Thị O được ly hôn đối với ông Nguyễn Thanh Tr.

2 Về con chung: Đã trưởng thành Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí: Bà Hà Thị O phải nộp 300.000 đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001651 ngày 08/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2019/HNGĐ-ST ngày 17/06/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:45/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về