Bản án 45/2019/HNGĐ-ST ngày 08/07/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 45/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/07/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 08 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 160/2019/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2019 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/6/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2019/QĐST-HNGĐ ngày 20/6/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị L - sinh năm 1990;

Nơi cư trú: Tổ 38, khu 3, phường Đ, TP H, Quảng Ninh

Chỗ ở hiện tại: Số nhà 30, phố Hải Phượng, phường H2, TP H, Quảng Ninh

- Bị đơn: anh Bùi Huy H1 - sinh năm 1976

Nơi cư trú: Tổ 38, khu 3, phường Đ, TP H, Quảng Ninh - vắng mặt không có lý do.

 NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nội dung vụ án theo như nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

- Về tình cảm: Chị L và anh H2 kết hôn ngày 12/01/2010, đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, TP H. Vợ chồng kết hôn tự nguyện có thời gian tìm hiểu nhau là 06 tháng. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H2 là người sống vô tâm, không quan tâm gì đến vợ con, mọi công việc gia đình anh H2 phó mặc cho chị L gánh vác. Khi vợ ốm hay con ốm thì anh H2 cũng chỉ hỏi thăm qua loa chứ không quan tâm chăm sóc. Hàng tháng anh H2 chỉ đưa cho chị L một số tiền ít ỏi để sinh hoạt và không quan tâm xem có đủ chi tiêu gia đình hay không. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là thời gian tháng 8/2018, hai vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm hay nói chuyện với nhau nữa. Từ tháng 6/2019 chị L chuyển đi thuê nhà không còn chung sống với anh H2 nữa. Nay chị L nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng gì với anh H2, thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Minh H3, sinh ngày 03/02/2011, chị L yêu cầu để anh H2 được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị tự nguyện cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng

- Về tài sản chung: Vợ chồng không nợ chung ai, không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, quan điểm trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Đây là tranh chấp ly hôn giữa hai đương sự cư trú trên địa bàn TP H, vì vậy Tòa án TP H thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Phía bị đơn là anh Bùi Huy H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, mặc dù đã nhận được giấy triệu tập nhưng anh H2 không đến toà án làm việc vì vậy tòa án không thể tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 1 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi nhận quyết định xét xử anh H2 cũng vắng mặt không có lý do nên phiên tòa ngày 20/6/2019 đã phải hoãn, lần mở lại phiên tòa này anh H2 vẫn vắng mặt không có lý do nên việc tòa án đưa vụ án ra xét xử hôm nay vắng mặt bị đơn anh Bùi Huy H1 là đúng quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, hội đồng xét xử nhận định:

Bị đơn anh Bùi Huy H1 đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do vì thế tòa án không thể ghi nhận được quan điểm của anh H2 về yêu cầu khởi kiện của chị L và không tiến hành hòa giải được. Việc vắng mặt của anh H2 cũng có nghĩa là anh đã tự từ bỏ quyền được tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình.

Qua các trình bày của chị L nhận thấy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Huy H1 là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. cuộc sống chung vợ chồng có mâu thuẫn. Các trình bày của chị L về mâu thuẫn vợ chồng được bố mẹ chồng chị L (vợ chồng sống cùng bố mẹ chồng) xác nhận là có căn cứ. Kể từ tháng 6/2019 chị L đã chuyển đi nơi khác sinh sống không còn chung sống với anh H2 nữa. Xét các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh H2 là trầm trọng nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Minh H3, sinh ngày 03/02/2011 hiện đang sinh sống cùng anh H2 và ông bà nội. Chị L trình bày bản thân chưa có chỗ ở ổn định nên để cháu H3 cho anh H2 trực tiếp nuôi dưỡng, chị L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng. Xét yêu cầu này của chị L là hợp tình, hợp lý, đản bảo quyền lợi của con chung. Bản thân cháu Bùi Minh H3 có quan điểm muốn được tiếp tục sống cùng anh H2 nên chấp nhận giao con chung cho anh H2 tiếp tục nuôi dưỡng, chị L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng.

- Về tài sản chung: Vợ chồng không nợ chung ai, không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản nên không xem xét vấn đề tài sản chung.

- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện VKS phát biểu quan điểm: Thẩm phán, hội đồng xét xử và thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự khi giải quyết vụ án, về quan điểm giải quyết vụ án đại diện VKS có quan điểm: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh H2 là trầm trọng nên đề nghị cho vợ chồng ly hôn. Con chung của vợ chồng giao cho anh H2 tiếp tục nuôi dưỡng.

Vì những lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, Điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Bùi Huy H1.

Giao con chung là cháu Bùi Minh H3, sinh ngày 03/02/2011 cho anh H2 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chị L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực đến khi con chung đủ 18 tuổi. Người trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về án phí: chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con chung được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002614, ngày 17/01/2018 của chi cục thi hành án dân sự TP H.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2019/HNGĐ-ST ngày 08/07/2019 về ly hôn

Số hiệu:45/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về