Bản án 45/2018/HS-ST ngày 31/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 45/2018/HS-ST NGÀY 31/05/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 31 tháng 5 năm 2018, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý 41/2018/TLST-HS ngày 10/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2018/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Tuấn A, sinh ngày 01/7/1994 tại xã K, huyện D, tỉnh Nghệ An; tên gọi khác: Mập; nơi cư trú: Thôn A, xã K, huyện D, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; con ông Lê Thanh T (Đã chết) và bà Phạm Thị M, sinh năm 1960; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 3; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An xử phạt 20 tháng tù về tội cướp giật tài sản, đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 11/01/2012.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2018 đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Trường mầm nom xã K huyện D tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Tăng Thị Trúc L, sinh năm 1978

Chức vụ: Hiệu trưởng trường mầm non xã K

Địa chỉ: Xóm 2, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

1. Anh Trương Sỹ Q, sinh ngày 24/10/2002

Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện D, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).

Đại diện hợp pháp của Trương Sỹ Q: Bà Tạ Thị D (mẹ đẻ của Quân). Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện D, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Hồng L, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn A, xã K huyện D, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).

3. Chị Trần Thị H, sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn A, xã K, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).

4. Chị Phạm Thị M, sinh năm 1960

Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện D, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

5. Anh Lê Quốc C, sinh năm 1986

Địa chỉ: Xóm A, xã Y, huyện D, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn T. (Vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Văn N. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2016 đến tháng 10/2017, Lê Tuấn A đã thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 18h 30 phút (không xác định được ngày) tháng 11/2016 Nguyễn Văn T đang cùng với Lê Tuấn A, Nguyễn Văn N và Trương Sỹ Q ngồi chơi tại nhà T. Trong lúc đang ngồi chơi thì Q rủ T, Ni, Tuấn A sang trường mầm non để trộm cắp sữa. Cả 3 đồng ý nên Q, T, T và N trèo tường rào bảo vệ vào trường mầm non. Thấy không có người trong trường nên các đối tượng đi đến phòng họp hội đồng nơi chứa sữa của trường mầm non K. Do cửa chính đang khóa nên Q chui người qua khe cửa sổ vào trong phòng mở chốt khóa trong cửa chính cho T, N, Tuấn A vào phòng lấy trộm 29 thùng sữa TH truemilk (loại sữa học đường) đưa ra ngoài sau đó N, T, Tuấn A đi ra bên ngoài, còn Q ở trong phòng chốt khóa cửa lại như ban đầu rồi chui qua khe cửa sổ theo lối cũ ra ngoài. Sau khi trộm được tài sản các đối tượng đưa về nhà T cất giấu sau đó đem đến nhờ anh Nguyễn Hồng L đi bán. T cho anh L 04 thùng còn lại 25 thùng anh L mang đến bán cho anh Lê Quốc C với giá 5.000.000đ. Sau khi bán được sữa,T trả tiền công cho anh L 1.100.000đ, chia cho Q 200.000đ; chia cho N 1.000.000đ. Số còn lại T cùng Tuấn A tiêu xài hết.

Tại Biên bản định giá tài sản ngày 10/11/2017 hội đồng định giá kết luận: 29 thùng sữa TH truemilk trị giá 10.022.400đ.

Vụ thứ hai: Khoảng 19h trong tháng 12/2016 (cách vụ thứ nhất khoảng 14 ngày), Nguyễn Văn T, Trương Sỹ Q, Lê Tuấn A cùng nhau trèo qua tường rào bảo vệ vào trường mầm non K để trộm cắp tài sản. Thấy cửa chính phòng chứa sữa đang khóa nên Q chui người qua khe cửa sổ rồi đi vào bên trong mở chốt khóa trong cho

T, Tuấn A vào lấy trộm 14 thùng sữa TH truemilk đưa ra bên ngoài sau đó T, Tuấn A đi ra ngoài, còn Q ở bên trong phòng chốt khóa cửa rồi chui qua khe cửa sổ theo lối cũ ra ngoài. Sau khi trộm được tài sản, các đối tượng đưa về cất giấu tại nhà T sau đó đem bán cho bà Phạm Thị M với giá 2.100.000đ. Số tiền bán sữa T chia cho Q 100.000đ; còn lại T cùng Tuấn A tiêu xài hết.

Tại Biên bản định giá tài sản ngày 24/11/2017 hội đồng định giá kết luận: 14 thùng sữa TH true milk trị giá 4.838.400đ.

Vụ thứ ba: Khoảng 20h tháng 02/2017 không rõ ngày (thời gian này học sinh vừa đi học sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán 2017), thấy trường mầm non không có người nên T, Q và Tuấn A tiếp tục rủ nhau trèo qua tường rào vào trường mầm non K để trộm cắp tài sản. Cả ba đi đến phòng chứa sữa (Phòng nhân viên). Thấy cửa phòng đang khóa nên T đi về nhà lấy 01 chiếc tua vít dài khoảng 15cm, phần cán bằng nhựa màu xanh rồi quay lại mở các ốc vít của chốt khóa cửa lấy trộm 10 thùng sữa TH truemilk. Sau khi trộm được tài sản, T vặn ốc vít cửa lại như cũ rồi cùng nhau đem số sữa nói trên đến bán cho anh Nguyễn Hồng L với giá 1.800.000đ. Số tiền bán sữa T chia cho Q 100.000đ, còn lại T và Tuấn A cùng nhau tiêu xài hết.

Tại Biên bản định giá tài sản ngày 24/11/2017, hội đồng định giá tài sản kết luận: 10 thùng sữa TH truemilk trị giá 3.456.000đ.

Vụ thứ tư: Khoảng 18 giờ tháng 3/2017 không rõ ngày (cách thời gian thực hiện vụ thứ ba khoảng 07 ngày) T, Q, Tuấn A tiếp tục rủ nhau trèo tường rào vào trường mầm non Diễn Kỷ để trộm cắp tài sản. Cả 2 đi đến trước cửa phòng chứa sữa, thấy cửa phòng khóa, T về nhà lấy chiếc tua vít lần trước rồi quay lại mở các ốc vít của chốt khóa cửa. Sau khi lấy trộm được 10 thùng sữa TH truemilk, T vặn các ốc vít cửa lại như ban đầu. Sau đó T, Tuấn A đem số sữa nói trên đến bán cho anh L với giá 1.800.000đ. Số tiền này T chia cho Q 150.000đ, còn lại T và Tuấn A cùng nhau tiêu xài hết.

Tại biên bản định giá tài sản ngày 24/11/2017 hội đồng định giá tài sản kết luận: 10 thùng sữa TH truemilk trị giá 3.456.000đ.

Vụ thứ năm: Khoảng 19 giờ không rõ ngày trong tháng 03/2017 (cách vụ thứ tư khoảng 10 ngày), T, Q và Tuấn A tiếp tục rủ nhau trộm cắp tài sản của trường mầm non K. Cả 3 trèo tường vào trong trường rồi đi đến phòng chứa sữa. Thấy cửa phòng khóa, Q chui người qua khe cửa sổ vào bên trong rồi mở chốt khóa trong cửa chính cho Thắng, Tuấn Anh vào lấy trộm 19 thùng sữa TH truemilk đưa ra bên ngoài, T, Tuấn A đứng bên ngoài còn Q ở bên trong chốt khóa lại như cũ rồi chui qua khe cửa sổ ra bên ngoài sau đó đem đến bán cho anh L với giá 3.800.000đ. Số tiền này T chia cho Q 150.000đ, còn lại T, Tuấn A cùng nhau tiêu xài hết.

Tại biên bản định giá ngày 24/11/2017 hội đồng định giá tài sản kết luận: 19 thùng sữa TH truemilk trị giá 6.556.400đ.

Vụ thứ sáu: Khoảng 18 giờ ngày không xác định được trong tháng 03/2017 (thời gian thực hiện cách vụ thứ năm khoảng 10 ngày) T, Q và Tuấn A tiếp tục trèo tường vào trường mầm non K để trộm cắp tài sản. Cả 3 đi đến phòng chứa sữa thấy cửa khóa nên Q chui người qua khe cửa sổ vào bên trong mở chốt khóa trong cửa chính cho T, Tuấn A cùng vào để lấy trộm 09 thùng sữa TH true milk ra bên ngoài, T, Tuấn A đứng ở bên ngoài còn Q ở bên trong chốt khóa trong lại rồi chui qua khe cửa sổ ra bên ngoài. Sau khi trộm được tài sản T, Tuấn A đem đến bán cho bà Phạm Thị M với giá 1.600.000đ. Số tiền bán sữa T chia cho Q 120.000đ, số còn lại T, Tuấn A cùng nhau tiêu xài hết.

Tại biên bản định giá tài sản ngày 24/11/2017 hội đồng định giá kết luận: 09 thùng sữa TH truemilk trị giá 3.110.400đ.

Vụ thứ bảy: Khoảng 19 giờ không rõ ngày trong tháng 04/2017 (cách vụ thứ sáu khoảng 10 ngày) T, Q cùng Tuấn A trèo tường rào vào trường mầm non xã K để lấy trộm tài sản. Thấy cửa phòng khóa nên Q chui người qua khe cửa sổ vào bên trong rồi mở chốt khóa trong cửa chính cho T, Tuấn A cùng vào để lấy trộm sữa. Cả 3 lấy trộm được 14 thùng sữa TH truemilk T, Tuấn A đứng ở bên ngoài còn Q ở bên trong phòng chốt khóa trong lại rồi chui qua khe cửa sổ theo lối cũ ra bên ngoài. Sau khi trộm được tài sản T, Tuấn A đem đến bán cho Nguyễn Hồng L với giá 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm nghìn đồng). Số tiền bán sữa T chia cho Q 120.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng), số còn lại T, Tuấn A cùng nhau tiêu xài hết.

Tại biên bản định giá tài sản ngày 24/11/2017 hội đồng định giá tài sản kết luận: 14 (mười bốn) thùng sữa TH true milk trị giá 4.838.400đ (bốn triệu tám trăm ba mươi tám nghìn bốn trăm đồng).

Vụ thứ tám: Khoảng 18 giờ ngày không xác định tháng 04/2017 (cách vụ thứ bảy khoảng 07 ngày) T, Q, Tuấn A tiếp tục rủ nhau trèo tường vào trường mầm non K để trộm cắp tài sản. Khi đến phòng chứa sữa, thấy cửa khóa nên Q chui qua khe cửa sổ vào bên trong và mở chốt khóa trong cửa chính cho T, Tuấn A vào lấy trộm 10 thùng sữa TH truemilk đưa ra bên ngoài sau đó Q chốt khóa trong lại rồi chui qua khe cửa sổ theo lối cũ ra bên ngoài. Số sữa trộm cắp được cả 3 đem về cất giấu trong nhà T đến hôm sau T giữ lại 04 thùng để sử dụng cá nhân, còn 06 thùng còn lại đem bán cho bà Phạm Thị M với giá 900.000đ. Số tiền bán sữa T chia cho Q 120.000đ còn lại T, Tuấn A cùng nhau tiêu xài hết.

Tại biên bản định giá tài sản ngày 24/11/2017 hội đồng định giá kết luận: 10 thùng sữa TH truemilk trị giá 3.456.000đ.

Vụ thứ chín: Khoảng 19 giờ ngày không xác định của tháng 04/2017 (cách vụ thứ tám khoảng 10 ngày) T, Q, Tuấn A tiếp tục trèo tường rào vào trường mầm non K để trộm cắp tài sản. Q chui người qua khe cửa sổ vào bên trong phòng sữa và mở chốt khóa trong cửa chính cho T, Tuấn A vào lấy trộm 21 thùng sữa đưa ra bên ngoài, Q ở lại chốt khóa trong rồi chui qua khe cửa sổ ra bên ngoài. Số sữa trộm cắp được cả 3 đem về cất giấu tại nhà của T. Sau đó T, Tuấn A lấy số sữa mới trộm được và số sữa còn lại của vụ thứ tám là 03 thùng (do T đã sử dụng hết 01 thùng), tổng cộng là 24 thùng bán cho anh L với giá 4.600.000đ. Số tiền bán sữa T chia cho Q 150.000đ, số còn lại T, Tuấn A cùng nhau tiêu xài hết.

Tại biên bản định giá ngày 24/11/2017 hội đồng định giá kết luận: 21 thùng sữa TH truemilk trị giá 7.257.600đ.

Vụ thứ mười: Khoảng 18 giờ ngày không xác định của tháng 05/2017 (cách vụ thứ chín khoảng 10 ngày) T, Q, Tuấn A trèo tường vào trường để trộm cắp sữa. Với thủ đoạn như các lần trước Q chui người qua khe cửa sổ vào bên trong mở chốt khóa trong cửa chính cho T, Tuấn A vào lấy trộm 12 thùng sữa TH truemilk đưa ra bên ngoài Q ở lại chốt khóa trong rồi chui qua khe cửa sổ ra bên ngoài. Số sữa trộm cắp được T, Tuấn A đem bán cho anh L với giá 2.400.000đ. Số tiền bán sữa T chia cho Q 150.000đ, còn lại T, Tuấn A cùng nhau tiêu xài hết.

Tại biên bản định giá ngày 24/11/2017, Hội đồng định giá tài sản UBND huyện D kết luận: 12 thùng sữa TH true milk trị giá 4.147.200đ.

Vụ thứ mười một: Khoảng 19 giờ (ngày không xác định) của tháng 05/2017 (thời gian học sinh chuẩn bị nghỉ hè) T, Q, Tuấn A trèo tường vào trường mầm non K để trộm cắp sữa. Cả 3 đi đến phòng họp hội đồng, với thủ đoạn như các lần trước, Q chui qua khe cửa sổ vào bên trong và mở chốt khóa trong cửa chính cho T, Tuấn A vào lấy trộm 06 thùng sữa TH true milk đưa ra bên ngoài Q ở lại chốt khóa trong rồi chui qua khe cửa sổ ra bên ngoài. Số sữa trộm cắp được T, Tuấn A mang bán cho bà Phạm Thị M với giá 900.000đ. Số tiền bán sữa T chia cho Q 100.000đ, số còn lại T, Tuấn A cùng nhau tiêu xài hết.

Tại biên bản định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện D ngày 24/11/2017 kết luận 06 thùng sữa TH truemilk trị giá 2.073.600đ.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKSDC ngày 09/5/2018 của VKSND huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Lê Tuấn A về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện VKSND huyện D vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2

Điều 51 BLHS năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Tuấn A mức án từ 24 đến 30 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết trong bản án số 20/2018/HS-ST ngày 22/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu – Nghệ An.

Về vật chứng vụ án: Đã được giải quyết trong bản án số 20/2018/HS-ST ngày 22/3/2018. Hiện bị cáo đã bồi thường cho trường mần non Diễn Kỷ 5.000.000 đồng, số tiền này được trừ vào khoản tiền buộc bồi thường của Nguyễn Văn T.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội buộc bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Diễn Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện nguyên đơn dân sự, người liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lê Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, đã đủ căn cứ để khẳng định Lê Tuấn A đã thực hiện 11 vụ trộm cắp sữa TH truemilk của Trường mần xon xã Diễn Kỷ trị giá tài sản bị trộm cắp là 53.212.400đ. Hành vi của bị cáo Lê Tuấn A đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm e khoản 2 điều 138 BLHS năm 1999.

[3]. Về tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo Lê Tuấn A có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của tổ chức, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Vụ án có đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giảm đơn, bị cáo là người cực phạm tội, thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xử phạt nhưng không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục vi phạm. Do đó, cần phải đưa ra một mức án nghiêm đối với bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo Lê Tuấn A ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

[4]. Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015. Tuy nhiên, quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo Tuấn A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số vụ thực hiện trộm cắp ít hơn T, bị cáo cũng đã tác động gia đình bồi thường , khắc phục một phần thiệt hại đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, bị cáo đầu thú, gia đình có công với cách mạng, hiện đang thờ cúng liệt sỹ, bản thân bị cáo lớn lên trong gia đình cha chết sớm, thiếu sự chăm sóc giáo dục chu đáo, nhận thức pháp luật hạn chế, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Lê Tuấn A để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Hội đồng xét xử xét căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ và lời khai tại phiên tòa các bị cáo không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án. Xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Đối với trách nhiệm bồi thường cho bị hại trong vụ án đã được giải quyết tại bản án số 20/2018/HS-ST ngày 22/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu – Nghệ An. Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu giải quyết gì về trách nhiệm dân sự. Đối với số tiền Tòa án buộc Nguyễn Văn T bồi thường cho bị hại theo bản án số 20/2018/HS-ST ngày 22/3/2018 trong đó bao gồm cả phần trách nhiệm liên đới bồi thường của bị cáo Lê Tuấn A, nhưng hiện tại Lê Tuấn A đã tiếp tục bòi thường thêm được 5.000.000 đồng (Năm triệu) cho trường mầm non xã K số tiền bồi thường được trừ vào khoản tiền đã buộc Nguyễn Văn T bồi thường. Nguyễn Văn T và bị cáo Lê Tuấn A đều đề nghị sẽ giải quyết với nhau bằng một vụ án dân sự khác. Do đó, HĐXX không xem xét trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Lê Tuấn A trong vụ án này.

[7]. Về vật chứng vụ án: Đã được giải quyết tại bản án số 20/2018/HS-ST ngày 22/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

[8]. Về án phí: Bị cáo Lê Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời gian quy đinh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Lê Tuấn A 24 (hai tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ tạm giam 29/3/2018.

- Về vật chứng vụ án: Đã được giải quyết tại bản án số 20/2018/HS-ST ngày 22/3/2018.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Tuấn A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại, người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.


76
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2018/HS-ST ngày 31/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:45/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diễn Châu - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về