Bản án 45/2017/HNGĐ-ST ngày 06/09/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 45/2017/HNGĐ-ST NGÀY 06/09/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 06 tháng 9 năm 2017, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 569/2017/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2017 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ng Th Th Th, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: Ấp G, xã A, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương; địa chỉ tạm trú: Số 18, khu phố Đ, phường Ph, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Bị đơn: Ông L D H L, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: Số 7 H L Kh, Phường 1, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ tạm trú: Số 18, khu phố Đ, phường Ph, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ng Th Th Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ng Th Th Th và ông L D H L tự nguyện tìm hiểu, sau đó tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND Phường 1, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46, Quyển số 01 ngày 12 tháng 6 năm 2009. Qúa trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông L không lo làm ăn, hay cờ bạc, nghiện hút bồ đà, đòi chém giết vợ con, đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2007 đến nay và không còn quan tâm thương yêu chăm sóc nhau nữa. Nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Th yêu cầu được ly hôn với ông L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên L Ng M A, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2009. Khi ly hôn bà Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bà Th không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông L D H L đã được Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại các Điều 179; Điều 208; Điều 220; Điều 227; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông L không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trịnh tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng: Bà Th khởi kiện ông L yêu cầu ly hôn, ông L hiện đang tạm trú tại số 18, khu phố Đ, phường Ph, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thị xã Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông L D H L theo đúng quy định tại các Điều 179; Điều 208; Điều 220; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông L không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa. Việc vắng mặt của ông L trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

 [2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ng Th Th Th và ông L D H L tự nguyện tìm hiểu chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND Phường 1, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46, Quyển số 01 ngày 12 tháng 6 năm 2009, là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, bà Th xác định vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng do ông L không lo làm ăn, hay cờ bạc, nghiện hút; vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã đánh nhau và đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2017 đến nay nên bà Th khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông L. Lời trình bày của bà Th là có căn cứ, phù hợp với thực tế khách quan của vụ án, phù hợp với kết quả xác minh của chính quyền địa phương, thể hiện trong biên bản xác minh ngày 01 tháng 6 năm 2017 tại khu phố Đ, phường Ph như sau: Ông L, bà Th có đăng ký tạm trú tại khu phố Đ, phường Ph. Qúa trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, đánh nhau và đã được chính quyền địa phương can thiệp giải quyết nhiều lần.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà Th và ông L không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Th về việc ly hôn với ông L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên L Ng M A, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2009. Khi ly hôn bà Th yêu cầu giao con cho bà trực tiếp nuôi dưỡng. Xét, yêu cầu của bà Th là có căn cứ vì cháu A là con gái, đang tuổi ăn học nên rất cần có sự quan tâm, chăm sóc của một người mẹ. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu A là muốn sống với mẹ nếu cha mẹ ly hôn. Do đó, yêu cầu của bà Th được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Th không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Xét, đây là sự tự nguyện của bà Th nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ng Th Th Th đối với bị đơn ông L D H L về tranh chấp ly hôn.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ng Th Th Th được ly hôn với ông L D H L.

- Về con chung: Giao cháu Lê Ng M A, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2009 cho bà Ng Th Th Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ng Th Th Th về việc không yêu cầu ông L D H L phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Ng Th Th Th phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0015272 ngày 22 tháng 5 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

142
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2017/HNGĐ-ST ngày 06/09/2017 về ly hôn

Số hiệu:45/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thuận An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:06/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về