Bản án 444/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 444/2019/HS-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 427/2019/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 437/2019/HSST-QĐ ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Lê Khanh H, sinh năm 1982 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số 4/13 khu phố Th Nh 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn Gh (đã chết) và bà Lê Thị C, sinh năm 1952; bị cáo có 04 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1987; bị cáo có vợ tên Lê Thị Cẩm T, sinh năm 1980, có 02 con ruột, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/8/2004, bị Tòa án nhân dân huyện D A (nay là thị xã Dĩ An), tỉnh Bình Dương xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 94/HSST; bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Nìm Quắn Ch, sinh năm 1980 tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: Số 25/2 Th A, xã S Th, huyện Tr B, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Khu phố Kh Th, phường T Ph Kh, thị xã T U, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nìm Tiến L (đã chết) và bà Phùng Ửng M, sinh năm 1956; bị cáo có 04 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1982; bị cáo có vợ tên Dương Ưng M, sinh năm 1987, có 01 con ruột, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

3. Lê Quốc H, sinh năm 1983 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số 31/2 khu phố Đ Ch, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn L, sinh năm 1954 và bà Đặng Thị Th, sinh năm 1955; bị cáo có 01 anh ruột, sinh năm 1979; bị cáo có vợ tên Lê Thị Ngọc Đ, sinh năm 1983, có 02 con ruột, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

4. Bùi Minh T1, sinh năm 1982 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số 6/5A khu phố Đ Ch, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1961; bị cáo có 02 em ruột, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1993; bị có 02 con ruột, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/02/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã D A, tỉnh Bình Dương xử phạt 8.000.000 đồng về tội Đánh bạc, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2015/HSST; bị cáo tại ngoại, có mặt.

5. Đặng Thành T, sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số 786/5A khu phố Đ Ch, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Thanh T, sinh năm 1956 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1963; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

6. Võ Thanh T2, sinh năm 1979 tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: Số 95 ấp L Th, xã B B, huyện C M, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Võ Nh, sinh năm 1946 và bà Thới Thị O, sinh năm 1947; bị cáo có 06 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1971, nhỏ nhất sinh năm 1987; bị cáo có vợ tên Phan Thị D, sinh năm 1989, có 01 con ruột, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

7. Phạm Ái Qu, sinh năm 1975 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số 3/4 khu phố Th L 1, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn D, sinh năm 1948 và bà Trần Thị B, sinh năm 1954; bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1978; bị cáo có vợ tên Lê Thị Băng T, sinh năm 1975, có 02 con ruột, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Bà Lê Thị Mộng Thùy L, sinh năm 1998; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 10 giờ 30 phút ngày 11/4/2019, Lê Khanh H, Nìm Quắn Ch, Võ Thanh T2, Bùi Minh T1, Lê Quốc H, Phạm Ái Qu và Đặng Thành T ngồi uống cà phê tại quán “C Ng” thuộc tổ M, khu phố Đ Ch, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Tại đây, H rủ Ch, T, T, H, Qu và T chơi lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. Lúc này, H lấy 03 họt xì ngầu, 01 đĩa bằng sứ, 01 cái lọc cà phê phin có sẵn ở gốc cây trong quán (không rõ của ai) rồi H làm cái để cho Ch, T1, T2, H, Qu và T đặt tiền, mỗi ván đặt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng vào các cửa tài hoặc xỉu. Sau khi các con bạc đặt tiền thì người cầm cái đối chiếu số nút để tính tài hay xỉu rồi xác định thắng thua và chung tiền theo số tiền tương ứng của các con bạc đã đặt. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Khanh H, Nìm Quắn Ch, Võ Thanh T2, Bùi Minh T2, Lê Quốc H, Phạm Ái Qu và Đặng Thành T đang chơi lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền thì lực lượng Công an phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang cùng tang vật.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

- Nìm Quắn Ch mang theo và sử dụng 10.000.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi thua 5.000.000 đồng khi bị bắt Công an thu giữ trên chiếu bạc 400.000 đồng và thu giữ trong người 4.600.000 đồng.

- Võ Thanh T2 mang theo và sử dụng 3.200.000.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi thắng 100.000 đồng, khi bị bắt Công an thu giữ trên chiếu bạc 1.000.000 đồng và trong người 2.300.000 đồng.

- Nguyễn Ái Qu mang theo và sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi thắng 600.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 600.000 và trong người 600.000 đồng.

- Lê Quốc H mang theo 15.000.000 đồng và sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi thắng 2.800.000 đồng, khi bị Công an bắt thu giữ trên chiếu bạc 3.000.000 đồng và trong người 14.800.000 đồng.

- Lê Khanh H mang theo và sử dụng 2.600.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi thắng 1.000.000 đồng, khi bị Công an bắt thu giữ trong người 3.600.000 đồng.

- Đặng Thành T mang theo và sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi thắng 600.000 đồng, khi bị Công an bắt thu giữ trên chiếu bạc 200.000 đồng và trong người 5.400.000 đồng.

- Bùi Minh T1 mang theo và sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi thua 100.000 đồng, khi bị Công an bắt thu giữ trên chiếu bạc 200.000 đồng.

Tng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 26.700.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 03 (ba) hột xì ngầu có in hình dấu chấm từ 01 đến 06 mỗi mặt, 01 (một) cái đĩa bằng sứ, 01 cái lọc cà phê phin và số tiền 36.700.000 đồng, trong đó có 26.700.000 đồng là sử dụng vào việc đánh bạc.

Đi với số tiền 10.000.000 đồng của Lê Quốc H không sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã trả lại số tiền trên cho Hùng.

Tại Bản cáo trạng số: 437/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Lê Khanh H, Nìm Quắn Ch, Lê Quốc H, Bùi Minh T1, Đặng Thành T, Võ Thanh T2 và Phạm Ái Qu phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo Nìm Quắn Ch, Lê Quốc H, Đặng Thành T, Võ Thanh T2 và Phạm Ái Qu, mỗi bị cáo từ 06 đến 08 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo Lê Khanh H và Bùi Minh T1, mỗi bị cáo từ 07 đến 09 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 03 (ba) hột xì ngầu có in hình dấu chấm từ 01 đến 06 mỗi mặt, 01 (một) cái đĩa bằng sứ, 01 cái lọc cà phê phin là tang vật sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 26.700.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, xử lý vật chứng đồng thời các bị cáo cho rằng mức hình phạt như Đại diện kiểm sát đề nghị là quá nặng và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/4/2019, tại tại quán cà phê “C Ng” có địa tại chỉ tổ M, khu phố Đ Ch, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Lê Khanh H, Nìm Quắn Ch, Võ Thanh T2, Bùi Minh T1, Lê Quốc H, Phạm Ái Qu và Đặng Thành T rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền, mỗi ván đặt cược 200.000 đồng đến 500.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là 26.700.000 đồng.

[3] Như vậy, hành vi của các bị cáo đánh bạc dưới hình thức chơi lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc 26.700.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 437/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng, nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc dưới mọi hình thức ăn thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Trong vụ án này bị cáo Hồng là người cầm cái, các bị cáo còn lại tham gia với vai trò là người trực tiếp đánh bạc.

[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo Nìm Quắn Ch, Lê Quốc H, Đặng Thành T, Võ Thanh T2, Phạm Ái Qu phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 [8] Về nhân thân: Các bị cáo Nìm Quắn Ch, Lê Quốc H, Đặng Thành T, Võ Thanh T2 và Phạm Ái Qu là người có nhân thân tốt thể hiện các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Lê Khanh H, Bùi Minh T1 đã từng bị Tòa án xét xử về tội Đánh bạc, đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, các bị cáo là người lao động, đang nuôi con nhỏ nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[9] Về hình phạt:

- Hình phạt chính:

+ Xét các bị cáo Lê Khanh H, Bùi Minh T1 phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng và lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ hơn nữa trong thời gian tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo, tạo điều kiện cho các bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú đồng thời các bị cáo là người lao động có thu nhập thấp, nên không áp dụng quy định khấu trừ một phần thu nhập khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ nên cần hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 162, 166/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với Lê Khanh H và Bùi Minh T1.

+ Xét các bị cáo Nìm Quắn Ch, Lê Quốc H, Đặng Thành T, Võ Thanh T1 và Phạm Ái Qu phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhất thời phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và là người lao động đồng thời trong thời gian tại ngoại chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức răng đe, giáo dục các bị cáo. Đồng thời do áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo nên cần hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 163, 164, 164, 165, 167, 168/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền của các bị cáo Lê Khanh H, Bùi Minh T gây mất trật tự tại địa phương, các bị cáo đã từng bị xét xử về tội đánh bạc đã được xóa án tích nhưng vẫn còn vi phạm đồng thời để răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Kh và T1. Đối với các bị cáo Nìm Quắn Ch, Lê Quốc H, Đặng Thành T, Võ Thanh T2 và Phạm Ái Qu, Hội đồng xét xử đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[10] Về xử lý vật chứng:

- Xét 03 (ba) hột xì ngầu có in hình dấu chấm từ 01 đến 06 mỗi mặt, 01 (một) cái đĩa bằng sứ, 01 cái lọc cà phê phin là tang vật sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

- Xét số tiền 26.700.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[11] Đối với số tiền 10.000.000 đồng của Lê Quốc H không sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã trả lại số tiền trên cho H là đúng quy định của pháp luật.

[12] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Còn mức hình phạt, xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và là người lao động nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt nhẹ hơn Viện kiểm sát đề nghị.

[13] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Khanh H, Nìm Quắn Ch, Lê Quốc H, Bùi Minh T1, Đặng Thành T, Võ Thanh T2 và Phạm Ái Qu phạm tội “Đánh bạc”.

1.1 Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; Điều 36; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lê Khanh H 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương nhận được Bản án và Quyết định thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Khanh H 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Bùi Minh T1 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương nhận được Bản án và Quyết định thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Bùi Minh T1 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nìm Quắn Ch 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Lê Quốc H 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Đặng Thành T 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Võ Thanh T 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Phạm Ái Qu 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

Hy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 162, 163, 164, 164, 165, 166, 166, 167, 168/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với các bị cáo Lê Khanh H, Nìm Quắn Ch, Lê Quốc H, Võ Thanh T2, Bùi Minh T1, Đặng Thành T và Phạm Ái Qu.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 26.700.000 (hai mươi sáu triệu bảy trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 01346 ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) hột xì ngầu có in hình dấu chấm từ 01 đến 06 mỗi mặt, 01 (một) cái đĩa bằng sứ, 01 cái lọc cà phê phin.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo Lê Khanh H, Nìm Quắn Ch, Lê Quốc H, Bùi Minh T1, Đặng Thành T, Võ Thanh T2 và Phạm Ái Qu, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 444/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:444/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về