Bản án 44/2021/HS-PT ngày 27/05/2021 về tội làm nhục người khác

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU 

BẢN ÁN 44/2021/HS-PT NGÀY 27/05/2021 VỀ TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 40/2021/TLPT-HS ngày 30 tháng 3 năm 2021 đối với các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Loan P1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2021/HS-ST ngày 23/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1963 tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp V, xã T, huyện N, tỉnh C .; Nghề nghiệp: Làm vuông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu Nghệ – sinh năm 1931 (đã chết) và bà Tạ Thị Nem – sinh năm 1958 (đã chết); Chồng: Trần Tấn L – sinh năm 1962, con: 02 người; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Bị cáo có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Loan P1 (tên gọi khác: Bé Thảo), sinh năm 1979 tại huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C .; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu Sương – sinh năm 1951 và bà Võ Thị Tốt – sinh năm 1952; Chồng: Nguyễn Minh Thức (đã ly hôn); Con: 02 người; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Bị cáo có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C . là người bị hại.

- Người bào chữa cho bị cáo Hạnh: Ông Cao Quốc Tuấn, Luật sư – Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thiên Đức thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau; có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C .; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Tấn L, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Ấp V, xã T, huyện N, tỉnh C .; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghi ngờ ông Trần Tấn L (chồng bị cáo Nguyễn Thị H) có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Thị D nên bị cáo Hạnh kêu Trần Ru Y (con trai bị cáo Hạnh) theo dỏi. Ngày 26/7/2020, phát hiện ông L chở bà D ghé nhà bà Trần Hồng Trang (tại Khóm 9, Phường 6, thành phố Cà Mau). Bị cáo Hạnh kêu Trần Bảo Quốc (con trai bị cáo Hạnh) chở bị cáo đến và rủ Nguyễn Loan P1 nói là đi nhậu nhưng dặn Phương điều khiển xe theo Hạnh.

Khi ông L và bà D vào nhà bà Trang được vài phút thì bị cáo Hạnh và Phương đến. Hạnh hỏi Diệu: Sao được ông L chở đến, mối quan hệ như thế nào với ông L? Bà D trả lời không biết và không có mối quan hệ gì. Nghe vậy, bị cáo Hạnh và Phương bực tức dùng tay đánh vào người bà D. Phương dùng dây dù do Hạnh chuẩn bị sẳn trói tay, chân của bà D. Hạnh và Phương chửi thô tục và hăm dọa bà D, buộc bà D phải thừa nhận có quan hệ tình cảm với ông L. Bị cáo Hạnh buộc bà D chui qua háng của bị cáo Hạnh nhiều lần và quỳ lạy bị cáo Hạnh, sau đó thì được chị Trang can ngăn.

Đến ngày 01/8/2020 bà D nhập viện điều trị tại Bệnh viện Quân – Dân y tỉnh Bạc Liêu đến ngày 06/8/2020 xuất viện.

Ngày 10/8/2020 bà D đến Phòng khám Đa khoa Hồng Đức tại Cà Mau thăm khám. Ngày 21/8/2020 bà D đến điều trị tại Bệnh viện Đa Khoa Cà Mau đến ngày 27/8/2020 thì xuất viện.

Kết luận giám định về thương tích số 225/TgT-20 ngày 24/9/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 00%.

Bà Nguyễn Thị D yêu cầu các bị cáo bồi thường 01 điện thoại di động trị giá 500.000 đồng và 01 đôi bông tai vàng 18k do bị mất; bồi thường chi phí điều trị 20.922.888 đồng; bồi thường danh dự, nhân phẩm theo quy định pháp luật.

Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2021/HS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 155, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Điều 592 của Bộ luật Dân sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của UBTV Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội Làm nhục người khác; Bị cáo Nguyễn Loan P1 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội Làm nhục người khác.

Buộc: Bị cáo Nguyễn Thị H bồi thường cho bà Nguyễn Thị D số tiền 15.731.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Loan P1 bồi thường cho bà Nguyễn Thị D số tiền 6.741.800 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm xử lý vật chứng; tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05 tháng 3 năm 2021, bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Loan P1 kháng cáo với nội dung: Không chấp nhận bồi thường số tiền điều trị tại Bệnh viện Đa Khoa Cà Mau từ ngày 21/8/2020 đến ngày 27/8/2020; không đồng ý bồi thường tiền tổn thất tinh thần.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo và bổ sung không đồng ý bồi thường tiền điều trị tại Phòng khám Đa khoa Hồng Đức.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, cụ thể: Do bị hại cũng có lỗi nên chỉ buộc các bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền bằng 3 lần mức lương cơ sở; Đối với tiền ăn do cấp sơ thẩm có nhầm lẫn nên tính 02 lần, do đó đối trừ 1.650.000 đồng; Còn lại các phần bồi thường khác giữ nguyên do bị cáo không cung cấp được chứng cứ để chứng minh bị hại nhập viện điều trị do nguyên nhân khác.

Bị cáo Hạnh, bị cáo Phương: Không đồng ý bồi thường về các chi phí điều trị và thiệt hại khác tại Phòng khám Đa khoa Hồng Đức và tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau; Không đồng ý bồi thường tổn thất tinh thần.

Người bào chữa: Tình trạng nhập viện của bị hại tại Bệnh viện Quân - Dân y Bạc Liêu là chấn thương phần mềm; Sau khi xuất viện thì bệnh đã ổn; Bệnh viên không yêu cầu bị hại phải tái khám. Bị hại điều trị tại Phòng khám Đa khoa Hồng Đức và Bệnh viện Đa khoa Cà Mau kết quả điều trị xác định bị hại chóng mặt do nguyên nhân ngoại biên; kết quả siêu âm, xét nghiệm chẩn đoán viêm đại tràng không xác định. Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại xác định trước khi bị đánh bị hại đã có triệu chứng đau đầu, chóng mặt. Do đó, việc bị hại điều trị tại Phòng khám Đa khoa Hồng Đức và Bệnh viện Đa khoa Cà Mau không có cơ sở để buộc bị cáo phải bồi thường.

Việc các bị cáo có hành vi làm nhục đối với bị hại là do lỗi của bị hại, bị hại có quan hệ tình cảm với chồng của bị cáo Hạnh làm mất hạnh phúc gia đình, tổn thương đến quan hệ tình cảm trong gia đình nên bị cáo Hạnh cũng bị ảnh hưởng về tinh thần. Do đó, yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh và hình phạt.

Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2021/HS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử bị cáo Nguyễn Thị H, bị cáo Nguyễn Loan P1 phạm tội “Làm nhục người khác”; Phạt bị cáo Nguyễn Thị H 12 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo Nguyễn Loan P1 09 tháng cải tạo không giam giữ. Các bị cáo, bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát cũng không kháng nghị về tội danh và hình phạt nên phần tội danh và hình phạt đã có hiệu lực pháp luật; Do đó, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo về tiền bồi thường.

Ngày 26/7/2020, tại nhà bà Trang, bị cáo Hạnh và bị cáo Phương có nhiều lời lẽ thô tục chửi và dùng tay đánh nhiều lần vào người bà D. Bị cáo Phương dùng dây dù trói tay, chân của bà D. Bị cáo Hạnh buộc bà D chui qua háng của bị cáo Hạnh nhiều lần và quỳ lạy bị cáo Hạnh. Sau đó, bà D có điều trị tại Bệnh viện Quân – Dân y Bạc Liêu từ ngày 01/8/2020 đến ngày 06/8/2020 xuất viện; Tổng số tiền chi phí điều trị là 1.718.500 đồng. Việc điều trị là thực tế, các bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ chi phí và thiệt hại trong thời gian điều trị, các bị cáo không kháng cáo đối với phần này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với điều trị tại Phòng khám Đa khoa Hồng Đức: Ngày 10/6/2020 bà D đến Phòng khám Đa khoa Hồng Đức thăm khám. Chứng từ, giấy tờ điều trị tại Phòng khám ghi nhận: Tổn thương nông tác động nhiều vùng cơ thể; tổng số tiền chi phí điều trị là 1.275.000 đồng. Xét thấy: Việc bị hại thăm khám và điều trị tại Phòng khám Đa khoa Hồng Đức là có cơ sở chấp nhận. Bởi, Giấy ra viện của Bệnh viện Quân – Dân y Bạc Liêu có ghi: Uống thuốc theo Toa. Tái khám tại khoa khám bệnh. Do đó, việc bà D đến thăm khám tại Phòng khám Đa khoa Hồng Đức vào ngày 10/6/2020 là thực hiện theo đúng phát đồ điều trị của Cơ sở y tế.

Đối với việc bị hại điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau, xét thấy: Hồ sơ Bệnh án đối với bà D tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau xác định điều trị: Bệnh nhân đau đầu. Kết quả Siêu âm và Xét nghiệm huyết học, sinh hóa, nước tiểu chẩn đoán: Bà D viêm đại tràng không xác định; Tổn thương nông ở đầu. Tổng kết bệnh án: Quá trình bệnh lý và diễn biến lâm sàng là chóng mặt; xét nghiệm cận lâm sàng là Sỏi thận; Phương pháp điều trị là Ức chế tiền đình, an thần hổ trợ. Mặc khác, kết quả tái khám tại Phòng khám Đa khoa Hồng Đức chỉ định uống thuốc mà không ghi nhận phải tái khám. Căn cứ vào chẩn đoán và điều trị của Bệnh viện Đa khoa Cà Mau, xét thấy không có cơ sở để xác định những bệnh lý trên của bà D có quan hệ nhân quả từ các vết thương trên người bà D do các bị cáo gây ra. Do đó, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

Như vậy, số tiền các bị cáo phải bồi thường cho bị hại được chấp nhận là: Tại Bệnh viện Quân – Dân y Bạc Liêu số tiền 3.818.000 đồng (Chi phí điều trị 1.718.000 đồng; tiền mất thu nhập 1.200.000 đồng = (06 ngày x 200.000đ/ngày);

tiền ăn của người bệnh và người nuôi bệnh 900.000 đồng = (06 ngày x 150.000đ/người)); Tại Phòng khám Đa khoa Hồng Đức số tiền 1.275.000 đồng.

Đối với tiền bồi thường tổn thất tinh thần: Xét thấy, mặc dù giám định thương tích kết luận là 00% nhưng hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo có ảnh hưởng đến sức khỏe và xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của bà D nên có ảnh hưởng đến tinh thần của bị hại. Do đó án sơ thẩm buộc các bị cáo có nghĩa vụ bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 05 lần mức lương cơ sở bằng 7.450.000 đồng = (1.490.000 x 05 tháng) là có cơ sở chấp nhận nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

Như vậy, tổng số tiền các bị cáo phải bồi thường cho bà D là 12.543.000 đồng nhưng các bị cáo đã nộp 2.000.000 đồng, các bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường 10.543.000 đồng. Trong vụ án này, bị cáo Hạnh có vai trò chính; bị cáo Phương thực hiện hành vi phạm tội do bị rủ rê, lôi kéo của bị cáo Hạnh nên án sơ thẩm buộc bị cáo Hạnh chịu 70% số tiền bồi thường, bị cáo Phương chịu 30% số tiền bồi thường là phù hợp. Do đó, bị cáo Hạnh có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường 7.380.000 đồng; bị cáo Phương có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường 3.163.000 đồng.

[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo nên các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Do sửa phần dân sự nên án phí dân sự được tính lại, án phí dân sự có giá ngạch bị cáo Hạnh phải chịu 369.000 đồng; án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Phương phải chịu 300.000 đồng.

[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1 - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm d khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Loan P1; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 24/2021/HS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về phần dân sự.

2 – Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 590, khoản 2 Điều 592 của Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 của UBTV Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc: Bị cáo Nguyễn Thị H tiếp tục bồi thường cho bà Nguyễn Thị D số tiền 7.380.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Loan P1 tiếp tục bồi thường cho bà Nguyễn Thị D số tiền 3.163.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Giao trả bà Nguyễn Thị D 2.000.000 đồng tiền các bị cáo đã bồi thường; Số tiền hiện Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố cà Mau đang quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/01/2021 – BL: 296).

Án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Loan P1 phải chịu 300.000 đồng.

Án phí dân sự có giá ngạch bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 369.000 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị H, bị cáo Nguyễn Loan P1 không phải chịu.

3 - Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

288
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2021/HS-PT ngày 27/05/2021 về tội làm nhục người khác

Số hiệu:44/2021/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/05/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về