Bản án 44/2020/HNGĐ-ST ngày 25/09/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 44/2020/HNGĐ-ST NGÀY 25/09/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 237/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 07 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2020/QĐST-HNGĐ ngày 04/9/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H, sinh năm 1991; HKTT: Ấp Q, xã E, huyện R, tỉnh Bình Dương. Tạm trú: 73/2/10B, khu phố T, phường Y, thành phố U, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Anh Lê Công V, sinh năm 1991; HKTT: Ấp Q, xã E, huyện R, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần hai không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2020, đơn xin xét xử vắng mặt và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn (chị Hồ Thị H) trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H và anh Lê Công V chung sống với nhau từ năm 2015. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 21/10/2015 tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện R, tỉnh Bình Dương.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không ai quan tâm chăm sóc đến ai, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, anh V hay có lời nói xúc phạm đến chị và gia đình chị, vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Hiện nay, chị H nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh Lê Công V.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh V không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn (anh Lê Công V).

Tòa án đã cấp, tống đạt các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập để anh V thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh V không có mặt trong tất cả các buổi làm việc, cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự, người tham gia tố tụng đúng thành phần. Phiên tòa được tiến hành đúng trình tự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng.

Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét gồm:

Đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2020 (nộp ngày 19/6/2020); bản sao giấy chứng minh nhân dân của nguyên đơn; sổ hộ khẩu và sổ tạm trú của nguyên đơn; giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 86, quyển số 01/2015, ngày 21/10/2015 do Ủy ban nhân dân xã E cấp; bản tự khai của nguyên đơn; đơn xin giải quyết vắng mặt của nguyên đơn; biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử nhận định, [1] Về tố tụng:

Chị H khởi kiện anh V về việc ly hôn. Anh Lê Công V có nơi cư trú tại ấp Q, xã E, huyện R, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn”. Tại phiên tòa, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh V theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh V chung sống với nhau từ năm 2015. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo luật định tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện R, tỉnh Bình Dương, theo giấy đăng ký kết hôn số 86, quyển số 01/2015, ngày 21/10/2015. Quá trình chung sống, giữa vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cải vả, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác…và lý do chính đáng khác. Trong quá trình tố tụng, Tòa án triệu tập anh V tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh V vắng mặt. Điều này thể hiện anh V không mong muốn hàn gắn với chị H. Tại các biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân ngày 23/4/2020, chính quyền địa phương và người thân của anh V thông tin chị H và anh V không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay. Việc chị H và anh V không còn chung sống với nhau một thời gian dài, khi Tòa án thụ lý vụ án, anh V cũng không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng như Hội đồng xét xử đã nhận định trên đây, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

[2.2] Về con chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] kiến của đại diện Viện Kiểm sát về nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng là phù hợp quy định của pháp luật nên hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 9, 19, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hồ Thị H đối với anh Lê Công V.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H được ly hôn với anh Lê Công V.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 86, Quyển số 01/2015 ngày 21/10/2015 do Ủy ban nhân dân xã E, huyện R, tỉnh Bình Dương cấp không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về con chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hồ Thị H không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0032933 ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện R, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2020/HNGĐ-ST ngày 25/09/2020 về ly hôn

Số hiệu:44/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dầu Tiếng - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về